Tuesday, November 4, 2014

Bằng Chứng Cụ Thể của Tính Bất Nhân Vô Đạo của Chủ Nghĩa Quốc Gia Dân Tộc

Khi Tôi viết nhận định về tính man rợ bất nhân phi lý của “tinh thần quốc gia dân tộc” trong bài viết  Tổ Quốc, Tín Ngưỡng, Văn Hóa, và những Tội Ác MAN Rợ Bạo Ngược:

“Ngoài yếu tố này, dù Justin không nhắc đến nhiều, theo Tôi, yếu tố độc tôn tự mãn (exceptionalism) của Mỹ sau vụ 911. Khiến gần như cả xã hội chính qui Mỹ mặc nhiên "dể dãi và tha thứ" trong tinh thần "quốc gia dân tộc", mà hầu hết nhân loại này nếu chưa trưởng thành vượt qua để có nhân bản, luôn luôn vướng phải. Như ngừoi Tầu, dù chống chế độ Cộng Sản, vẫn tự hào về thành quả chiếm đóng giết ngừoi của "dân tộc" họ  ở Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, hay tại Việt Nam.... Và người Việt Nam, một mặt nhồi nhét lẫn nhau về những bài học “nước mắt xương máu” lịch sử “tàn bạo” của Trung Quốc, của thực dân Tây phương đối với dân tộc “hiếu hòa văn hóa nhân bản” Việt Nam ta- mặt khác lại cũng tiếp tục nhồi nhét niềm tự hào trong giáo dục, văn học  về cuộc cái gọi là "cuộc Nam Tiến Mở Mang Bờ Cõi" của "tổ tiên" với những hành động và chính sách diệt chủng- và ngay hôm nay, khi nhân loại đã vượt lên chủ nghĩa dân tộc, lên án tất cả các cuộc diệt chủng, thì người Việt Nam, họ vẫn thì thầm với nhau (không dám to mồm công khai, vì biết sẽ bị dư luận nhân bản thế giới lên án) về "tài ba" của các chiến sĩ ta (Ngụy và Phỉ)  lấn chiếm và khống trị  bọn "mọi" Miên Lào, đàn áp đồng hóa người Khmer Krom.
Não trạng "quyền lợi quốc gia" - "tự hào dân tộc" v.v Nó đưa đến kỳ thị chủng tộc và chính đáng hóa cho hành động man rợ, từ đó nó mặc nhiên tập thể hóa luôn hành động này, nghĩa là cả một xã hội khuyến khích, đồng lõa với tội ác bằng sự bao che, ngụy biện và khỏa lấp cho nhau nhân danh bảo vệ "danh dự tổ quốc dân tộc". Ở một mức cùng cực của man rợ, những đồi bại hoang thú này còn được tha thứ ban phép lành bởi ý niệm tôn giáo tự tôn nữa. Cấp độ tội ác càng bạo ngược hơn khi có niềm tin tôn giáo làm nền. Kẻ sát nhân sẽ tự thánh hóa mình và tàn sát những đối phương đã bị niềm tin và thông tin tuyên truyền ác hóa xuống hàng ngạ quỉ, như người Thiên Chúa giáo nhìn ngừoi Hồi Giáo như những tên ác quỉ (Satan) và ngược lại những ngưởi Hồi giáo nhìn ngừoi Thiên chúa giáo cũng cùng hình ảnh mức độ như vậy. “
Và đã có những "hậm hực than phiền" về nhận định của Tôi từ những người Viêt Nam. Lạ lùng nhất là từ những công dân Mỹ, Anh, Úc, Pháp, Áo, Thụy Điển, Hà Lan v.v gốc Việt!!!

Dĩ nhiên, khi tuyên bố, lên án, hay ngay cả chỉ là nhận định, chúng ta cũng cần những bằng cớ, dẫn chứng cụ thể.  Trong trường hợp này, Tôi chẳng cần bằng chứng lịch sử gì xa xôi, vì NGAY CHÍNH THÁI ĐỘ PHẢN ĐỐI HẬM HỰC của những người Việt Nam, nhất là những công dân Tây phương gốc Việt ở thế kỷ thứ 21 này, đã minh chứng điển hình và hùng hồn minh xác nhận định của Tôi và của tất cả những học giả sử học và nhân chủng học đã dầy công nghiên cúu tổng hợp và kết luận về tính bất nhân man rợ của chủ nghĩa quốc gia dân tộc và tính trơ trẽn ngụy tín của những con người theo đuổi tôn thờ sử dụng  nó.
Khi loài người chưa bước vào kỷ nguyên ánh sáng và nhân bản với những ý niệm về giá trị tự do chủ quyền con người từ hậu bán thế kỷ thứ 20 đến nay, thì chủ nghĩa Quốc Gia Dân Tộc là một “lý tưởng” ưu thắng khắp mọi nơi, từ Đông qua Tây. Những tên cầm chính đẫm máu con người luôn là những “anh hùng dân tộc”; những tiến chiếm cướp đoạt luôn là những “công lao vĩ đại”, vì “lịch sử quốc gia” là những chữ nghĩa phù thủy hư cấu “thần tích giống nòi”, được nhân bội bởi những “chiến công” giết ngừoi, cưỡng bức thống hợp, cướp đất diệt chủng.

Những “thần tích giống nòi” được nhồi nhét khắc sâu vào trong não trạng của con người hàng tram năm, ngàn năm, từ trong bào thai đến giáo dục gia đình xã hội, khiến người ta ở những thời điểm trước không hề có ý niệm “nhân loại”. Bất cứ ai khác “giống nòi” đều “man di” (Babaric)  “ngoại súc” (Alien). Nhiều khi rất trớ trêu như trường hợp nhóm Á Châu như Tầu, Việt, Hàn , Nhật khi mới tiếp súc với Tây phương vẫn cho họ là “bạch quỉ man di”, để rồi tự nhốt chính mình trong tháp ngà ngu dốt lạc hậu, và hệ quả sau này là không chỉ bị chiếm đóng nô lệ, mà sau khi hết bị chiếm đóng nô lệ, lại tự nguyện miệt mài học hỏi bắt chước Tây phương mà vẫn chưa theo kịp đến nơi đến chốn… Đơn giản bởi vì tất cả đã phải nhìn nhận một sự thật, Tây phương họ thật sự văn minh tiến bộ hơn Á Châu, không hoàn toàn, nhưng xa lắm về rất nhiều mặt.

Nhưng trước khi đi xa và sâu hơn, hãy giải quyết cái hậm hực ngu dốt bán khai của “ngừoi Việt tinh túy”  hôm nay đã.

Những ai, ở tuổi đời từ 60-70 trở lên (2012) hẳn còn nhớ sự trâng tráo của Tây phương, đặc biệt là khối Anh, Pháp, Mỹ, Hà Lan trong thời điểm thịnh hành của chủ nghĩa thực dân của họ ở các xứ Nam Mỹ, Châu Phi và Á Châu- nhất là trong sự kiện Đệ Nhị Thế Chiến với sức mạnh của Quốc Xã đã chiếm đóng hầu hết các xứ đế quốc thực dân này.

Họ dài mỏ cao giọng lên án chủ nghĩa Phát xít man rợ. Nào là hủy diệt nhân loại, chà đạp tự do, độc lập, và nhân phẩm con người v.v  Nhưng ngay sau khi họ vừa thoát được ách thống trị của Phát Xít, họ nhẫn tâm trâng tráo tiếp tục đàn áp man rợ những xứ sở bị họ thực dân nhưng vẫn cùng đổ xương máu chung với họ chống Phát Xít, như Viêt Nam, An Gê Ri.

Tôi nhớ đã viết lại đâu đó trong bài viết cách đây đã lâu, một câu chuyện xảy ra cho chính Tôi khi ở đại học UNSW, Úc vào năm 1994. Lúc đó nhân tuần lễ kỷ niệm ngày D-Day, (4-6-1944) vị giáo sư chủ nhiệm chính của cả khóa học nói về ngày kỷ niệm “quân đội đồng minh ”chiến đấu hy sinh vì tự do của thế giới”. Tôi đã giơ tay phản đối, Tôi nói nhận định như vậy là chủ quan cưỡng lý. Tôi và nhiều người của nhiều xứ sở khác, chẳng có ơn nghĩa gì với những người lính Tây phương đó, chính đất nước Việt Nam và người Việt nam đã phải chiến đấu chống lực lượng “đồng minh”, trước và sau 1945, để có độc lập, chứ không phải chiến đấu chống Đức quốc xã để dành độc lập. Vị giáo sư, và cả lớp nghiên cúu sinh, đều vui vẻ đồng thuận rằng “hy sinh vì tự do cho thế giới” là không đúng sự thật. Ông ta còn cười xòa nói với cả lớp “We know, we are very Eurocentric” (Chúng tôi biết chúng tôi rất Âu châu tự thị). Phải công nhận họ rất trí thức: vui vẻ thoái mái thừa nhận cái sai của họ khi được vạch ra đúng đắn, rõ ràng và hợp lý.

Và ngày hôm nay, giữa tình hình biên giới đất biển căng thẳng giữa Viêt Nam và Trung Quốc, hầu như tất cả các nhóm gốc Việt và Việt Nam trong nước đều tận dụng “lịch sử chiếm đóng đô hộ” trải dài hơn ngàn năm của Trung Quốc đối với Việt Nam để  lên án gây lòng căm thù qua “chủ nghĩa quốc gia dân tộc”.

Ấy nhưng khi đề cập đến sự kiện bá quyền bành trướng và diệt chủng của Viêt Nam trong lịch sử đối với Chân Lạp Chiêm Thành trong cái gọi là “cuộc Nam Tiến”, và thái độ chính sách hôm nay với Miên Lào và với ngay công dân Việt gốc Khmer Krom, Chàm .. thì họ viện dẫn rằng đó là “hoàn cảnh lịch sử” theo nhu cầu “tương tranh  sinh tồn” không tránh được!!!

Giả thiết là lập luận này “đúng”. Vậy người Trung Quốc "Hán tộc", họ cũng viện dẫn như vậy, thì lấy cái gì để lên án họ? Mà cho rằng “chính trị thế giới  là mạnh được yếu thua”, và “thủ đoạn ai cao người ấy thắng” thì lại càng chết! Giả sử “Dư luận thế giới” cũng đồng thuận lập luận như mình, khi mình ra rả phân bua phải trái kêu cúu với họ, và họ chỉ thẳng vào mặt Viêt Nam để nói thẳng rằng “chính trị thế giới  là mạnh được yếu thua”, và “thủ đoạn ai cao người ấy thắng”!!! (Mẹ tiên sư, đến Chúa, Phật cũng phải ngao ngán não trạng quốc gia dân tộc này)

Nhưng may mắn rằng kỷ nguyên man rợ trắng trợn ấy cũng đang đi qua, và nhân loại cũng đang tận sức vận đông để  đẩy những lập luận man rợ phi nhân này lùi hẳn vào quá khứ và tan biến trong hố rác của lịch sử nhân loại. Ít nhất ở mặt thể hiện chính qui bang giao và giáo dục phổ thông, người ta KHÔNG CÒN CHẤP NHẬN LÝ LẼ này nữa.

Trên bình diện quốc tế, từ sau đệ nhị thế chiến, nhận thức nhân bản đã đổi thay, với sự ra đời không chỉ của Tuyên Ngôn Nhân Quyền, mà ngay cả một Hội Nghị về Công Đạo và Công Pháp về tội Diệt Chủng cũng được thành lập để ngăn chặn và trừng phạt những quan niệm hành xử đẫm máu man rợ, mà trước đó từng được vinh danh là “anh hùng dân tộc” trong thời kỷ não trạng “quốc gia dân tộc”.

Hội Nghị Qui Ước Ngăn Ngừa và Trừng Phạt  Tội Diệt Chủng (The Convention on the Prevention and Punishment of the Crime of Genocide) được đồng thuận tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ngày 9 tháng 12 năm 1948 qua Nghị Quyết LHQ 260. Qui Ước có hiệu lực từ ngày 12 tháng Giêng năm 1951. Qui định pháp chế cho tội phạm này, và các thành viên quốc gia được nhắc nhở phải ngăn chặn cũng như trừng phạt những hành động diệt chủng trong chiến tranh cũng như thời bình.
Những hành động được qui là diệt chủng là những hành động có ý đồ tiêu diệt một phần hay hoàn toàn một quốc gia, một nhóm chủng tộc, thiểu số, hay tôn giáo; bao gồm các hành vi như giết hại các thành viên của họ- cố tình tạo điều kiện sinh sống khó khăn trong tính toán để tiêu diệt từng phần hay toàn bộ một nhóm người; hay áp đặt những biện pháp chủ ý ngăn chặn sinh sản trong nhóm người đó; hoặc cưỡng ép bắt những trẻ em của họ gia nhập vào những nhóm người khác 
(any of the following acts committed with intent to destroy, in whole or in part, a national, ethnical, racial or religious group, as such:
(a) Killing members of the group;
(b) Causing serious bodily or mental harm to members of the group;
(c) Deliberately inflicting on the group conditions of life calculated to bring about its physical destruction in whole or in part;
(d) Imposing measures intended to prevent births within the group;
(e) Forcibly transferring children of the group to another group.
Từ đó cho đến nay, hàng loạt các công trình nghiên cúu được tiến hành để đúc kết tất cả các tội phạm thực dân diệt chủng để hình thành một kho tài liệu làm bài học cho những thế hệ sau của nhân loại này.

Có rất nhiều công trình nghiên cúu. Bạn đọc chỉ cần vào Google, gõ hàng chữ “Genocides in Histroy” sẽ ra hàng lố. Ở đây Tôi chỉ xin nêu ra một đại lược:

Quan điểm chung của các nghiên cúu này là chia những cuộc diệt chủng ra làm hai thời kỳ: Trước và sau năm 1490s. Để xác định nguyên nhân và động cơ của các cuộc tàn sát diệt chủng trong tiến trình lịch sử của loài người, hầu có được giải pháp tháo gỡ tính man rợ này. Và trước tiên là đặt hành động “vì dân tộc tổ quốc này” vào vòng TỘI ÁC CHỐNG NHÂN LOẠI. Như việc đang gây tranh luận thế giới là sự kiện cận sử người Thổ Nhĩ Kỳ tàn sát ngừoi Armenians, và người Do Thái đang tàn sát người Palestinians.

Trước  1490, các công trình nghiên cúu đúc kết tài liệu dữ kiện từ các diễn tiến lịch sử tương quan giữa các xứ sở “dân tộc”.

Giai đoạn sau 1490 tương đối đầy đủ sử liệu hơn được nghiên cúu ghi lại khá rõ”
    Từ năm 1490 đến 1914
        Vùng Mỹ Châu (Americas) thủ phạm Mỹ (United States of America), Argentinne. Úc (Australia), France, Philippines -German South-West Africa- Ireland – Cuộc chiến Tam Quốc Anh giáo giết Công Giáo (War of the Three Kingdoms)- Nạn Đói Ái Nhĩ Lan- (Great Irish Famine) Tội Ác Đế Quốc Nga (Russian Empire)- Tội Ác Nhà Thanh (Qing empire)
Từ năm 1915 đến 1950
        Tội ác đến quốc Hồi Giáo Thổ (Ottoman Empire/Turkey)- Vụ Armenian- Assyrian- Hy Lạp Greek- Người thiểu số Dersim Kurds.
        Tội ác đế quốc -Soviet Union- Giết người Cossack (Decossackisation)-Vụ Holodomor- Vụ Thanh Trừng đẫm máu Stalin (Great Purge)- Vụ luu đầy sau Thế Chiến (Post-World War II deportations of North Caucasian peoples)- Vụ luu đầy người Ban Tích (The Mass Deportations in the Baltic States of Lithuanians, Latvians and Estonians)
        Tội ác chủ nghĩa quốc gia dân tộc Đức -Phát Xít Đức Nazi Germany and occupied Europe) Vụ Croatia- Tàn Sát Balan (Massacres of Poles in Volhynia and Eastern Galicia)-Vụ Dominican Republic-
        Vụ tàn sát chia cắt lãnh thổ Ấn Độ (Partition of India in 1947)
        Vụ Trung Cộng tàn sát giết dân cướp nước Tây tạng (Republic of China and Tibet)
    Từ năm 1951 đến 2000
        Vụ đánh đuổi ngừoi Đức sau thế chiến thứ 2 (Expulsion of Germans after World War II)
        Chương trình diệt chủng ngừoi dân bản xứ ở Úc từ năm 1900 đến 1969 (Australia 1900-1969)
        Vụ -Zanzibar- Vụ phe cực hũu do Mỹ hậu thuẫn ở Guatemala 1968-1996- Vụ Pakistan (Bangladesh War of 1971) – Tàn sát diệt chủng ở Phi Châu- Burundi 1972- 1993 - Rwanda 1994  - Bắc Hàn (North Korea)-  Equatorial Guinea- Vụ diệt chủng ở Cambodia – Đông Timo và Nam Dương- (East Timor under Indonesian occupation)- Vụ ngừoi Anh tàn diệt cướp đất người Argentina (Dirty War in Argentina)- Vụ Do Thái và Li Băng (Sabra-Shatila, Lebanon) Vụ Sô Viết A Phú Hãn ( Soviet intervention in Afghanistan) – Vụ Mỹ chiếm đóng Viêt Nam (US invasion of Vietnam) Vụ Ethiopia- Iraqi Kurds – India-Tibet- Brazil-Democratic Republic of Congo-Somalia-Azerbaijan- Sri Lanka v.v

Dĩ nhiên là chưa thể đầy đủ, và chưa hết.  Vì khi chủ nghĩa quốc gia nhà nước chưa chấm dứt, thì hành động chính sách diệt chủng nhân danh Nhà Nước Quốc Gia Dân Tộc vẫn còn như chúng ta đang thấy, và thấy rất rõ ở NÃO TRẠNG ngừoi Viêt Nam, những người ĐANG HẬM HỰC với bài nhận định của Tôi, và trong não trạng người Trung Quốc Hán tộc hôm nay.

Trở lại vấn đề của “Nam Tiến” của “dân tộc hùng tráng chúng ta”, để cho rõ ràng có “chứng sử”, Tôi xin giới thiệu tác phẩm của giáo sư đại học Yale, Mỹ- ông  Ben Kiernan (2009). ). Giáo sư Ben Kiernan, người đã lấy trận chiến tiêu hủy thành Carthage  của Hy lạp trong cuộc chiến Third Punic War vói quân La Mã  (149–146 BC) "Là Cuộc Diêt Chủng Đầu Tiên." Tác phẩm nghiên cúu sử về Diệt Chủng qua chủ nghĩa quốc gia dân tộc- “Máu và Đất” Lịch Sử Diệt Chủng và Triệt Sát của Thế Giới từ Sparta (nhà nước thành phố Sparta cổ Hy Lạp ở thế kỷ 7 trước công nguyên -650 BC) đến Darfur  (Blood and Soil: A World History of Genocide and Extermination from Sparta to Darfur. Yale University Press.

Trong tác phẩm này, điển hình như cuộc “Nam Tiến diệt chủng” ngừoi Chân Lạp Chiêm Thành  của người nước Việt Nam, được ghi nhận khá đầy đủ từ trang 102- đến trang 112 (xin đọc bản Anh ngữ cuối bài)

Như những người “yêu nước yêu nòi” của xứ Viêt Nam được giáo dục và vẫn đang truyền tụng lại cho nhau nghe rằng “cuộc Nam Tiến mở mang bờ cõi , công lao vĩ đại của cha ông chúng ta khởi đầu từ thời Lý, với Lý Thánh Tông (Bình Chiêm 1069) đến triều Nguyễn sau này. Nhưng tác giả Ben Kiernan nghiên cúu có “nhẹ nhàng” và khoa học hơn, nên đặt trọng tâm vào thời điểm khi có chính sách diệt chủng rõ ràng của Việt Nam đối với Chiêm Thành (champa) từ năm 1390 đến 1509- (The Vietnamese Destruction of Champa 1390-1509)- Nghĩa là tiến trình dân tộc có quốc giáo Phật giáo Đại Việt “từ bi, hỉ xả” diệt chủng dân tộc Hồi giáo Chiêm Thành “về cực lạc”- được kéo dài từ cuối thời nhà Trần, Hồ, đến Lê Mạt- Lê Uy Mục-. Nhưng cao điểm là vào thời Lê Thánh Tông, mở đường cho các Chúa Nguyễn sau này dễ dàng vào chỗ “không người” (Terra Nullius) gọi là miền Nam. Tác giả tham khảo, ghi nhận lại những chi tiết đối thoại và “nét đạo đức giả” của vị “thánh đế anh hùng dân tộc” của giống nòi Rồng Teo Thánh Tông (1471) như sau
“Quân Việt bắt sống 50 hoàng tộc Chiêm Thành. Quân Việt bắt trói vua Chiêm Trà Toàn lôi đến quì trước mặt Lê Thánh Tông. Thánh Tông hạch Trà Toàn:
T.Tông: “Ngươi là vua Chiêm phải không?”
T.Toàn: “Phải”
T.Tông: Ngươi biết ta là ai không?
T.Toàn: Nhìn diện mạo ngài, tôi biết ngài là hoàng đế.
 T.Tông: Ngươi có bao nhiêu con.
T.Toàn: Có trên mười đứa.
Thánh Tông tha mạng cho Trà Toàn và cho Toàn giữ lại (2) hai người vợ. Khi quân lính lôi Trà Toàn đi ra, Thánh Tông nói với theo ra lệnh phải đối xử với Trà Toàn đúng theo cương vị cụu Vương của một xứ. Nhưng thật ra Lê Thánh Tông đã ra lệnh trục xuất hoàng tộc Chiêm cùng 30 ngàn tù binh Chiêm về đất bắc Việt. Trà Toàn chết luu đầy bệnh tật trên chiếc tầu đi đày đến đất Việt nam. Đầu của Trà Toàn bị chặt bằm và treo ở mũi  thuyền . Gia đình hoàng tộc Chiêm của Trà Toàn bị nhốt vào một khu bên cạnh cung điện Thăng Long (Hà Nội); họ sống ở đây 30 năm. Một số sau được ra làm gia nhân cho các nhà quan; còn những kẻ khác bị buộc phải đổi tên họ theo Việt nam. Nhưng dân chúng “Phật tử” Việt càng ngày càng chống những người đồng hóa vào Việt xã hội Viêt nam này -trang 110-sách đã dẫn-(sao mà giống bọn quốc xã, và đám thiểu số thiên chúa gíao đầu trọc kỳ thị thời nay ở Đức, Áo, Hà Lan, Úc thế nhỉ!- Cuộc mở mang bò cõi của phật giáo Đại Việt -Lê Thánh Tông năm 1471 đã tàn sát trên 60,000 người-đốt phá toàn bộ thủ đô nước này- nkptc)  
Những kẻ theo chủ nghĩa quốc gia dân tộc Đại Việt chắc không tránh được mỉm cười “tự hào dân tộc công đức tổ tiên”. Và dĩ nhiên những con dân Chàm-Khmer Krom hôm nay đang còn sống rải rác trên khắp thế giới, vẫn bi phẫn rướm lệ khi học lại bài lịch sử dân tộc thương đau.
Mà thật ra cái gọi là “nụ cười tự hào bờ cõi dân tộc ” của đám “rồng teo” có thấm gì với “nụ cười tự hào bờ cõi dân tộc ” của Hán tộc Trung Quốc! Nó “mở mang bờ cõi nhiều hơn, tàn sát đồng hóa nhiều hơn, và hôm nay, cũng như Việt Nam, chưa thèm ngưng lại- Không những vậy mà “bi phẫn rướm lệ” bị ngoại bang đô hộ cướp bóc của dân “Rồng teo” cũng chẳng kém dân Chàm là bao: Vẫn đang đe dọa tiếp diễn!

Qua những nỗ lực truy tìm và lên án những cuộc thảm sát diệt  chủng từ tư tưởng kỳ thị chủng tộc này, và từ đó, những tên “cụu anh hùng dân tộc” đẫm máu của các xứ sở tiến bộ ở Âu Tây như Mỹ, Anh, Pháp,Úc v.v đã lên bàn mổ của sử gia và các nhà nhân văn học. Những cuộc “Nam Tiến” chiếm đất mở mang bờ cõi, lập quốc, với lý cớ cổ điển sai lầm ngụy biện “đất hoang” (Terra Nullius) như, Anh, Mỹ, Canada, Úc, Tân Tây Lan, Pháp, v.v đều không chỉ bị đồng thuận bác bỏ, lên án liên tục trong văn bản tài liệu phim ảnh, sách vở giáo khoa v.v mà đã đưa đến những công nghị xin lỗi của quốc gia với những nhóm dân thiểu số bản xứ còn tồn tại, rồi còn những hiệp ước được ký kết để bồi thường họ chính đáng, điển hình là Nhà Nước Chính Phủ Úc Đại Lợi đã chính thức lập Công Nghị quốc gia xin lỗi người dân bản xứ. Những lập luận này hiện nay chỉ còn tồn tại ở trong não trạng của những nhóm thiểu số tôn giáo cực hũu kỳ thị, và vẫn bị thường xuyên lên án. Nhưng nó lại cực thịnh và được ca ngợi trong sinh hoạt của toàn bộ “dân tộc Viêt hiếu hòa cao quí”. Và mỉa mai thay, nó lại càng được xiển dương gào thét nhiều nhất bởi chính những công dân Tây phương gốc Việt, những kẻ đang là "Công dân văn minh" của những xã hội mà giá trị nhân bản đã thay đổi nâng cao, đang lên 
án những hành động diệt chủng từ quá khứ đến hiện tại.

Chúng ta tự hào mãn nguyện vì tổ tiên chúng ta tàn bạo ăn cướp tru diệt người khác nhân danh tổ quốc sinh tồn, mạnh được yếu thua-  thì người khác cũng tự hào và lý luận như vậy- Chúng ta đau khổ uất hận căm thù vì bị người khác đàn áp cướp đất giết hại như giữa Việt và người Hoa – thì người khác cũng đau khổ uất hận căm thù chúng ta, như giũa sắc dân Việt đàn áp giết hại diệt chủng dân Chàm- và Khmer Krom hiện nay. Chúng ta thêu dệt hư cấu  bốc phét  hung hăng tự hào “tổ cò dân tộc Viêt thường”, thì người khác cũng gian manh ngang ngược “dân tộc tổ cò Đại Hán”. Còn ngụy biện bài bây cãi cối để lý luận rằng, lịch sử là tương tranh “mạnh được yếu thua” của luật sinh tồn.. Thì chúng ta nên câm miệng lại, đừng mở mồm cao giọng đạo lý nhân quyền  tố cáo ai hết, đừng nhân danh cái gì hết, đừng phân bua phải trái với ai hết- hãy cứ “khôn ngoan” mà lo vũ khí bạo lực để mà vĩ đại tự tồn. Còn nếu để yếu hèn thì bị tiêu diệt  trong thế tương tranh luật rừng, ráng mà chịu. Huề cả làng!

Nhưng nếu khi đã nhận thức rằng bảng Giá Trị Con Người  Xã Hội Tương Quan đã thay đổi, đã vươn lên đến một nền Nhân Bản chung – mà chúng ta dùng nó, đặt nó làm nền tảng để từ nó được hưởng quyền lợi được tôn trọng và bảo vệ trong xã hội nhân loại- để lên án tố cáo người khác vi phạm –như những công dân Tây phương gốc Việt đang thực hiện ở những xã hội đã tiến bộ- và những công dân Viêt đang đấu tranh đòi hỏi tại CHXHCNVN-  thì chính chúng ta, với nột tự trọng tối thiểu, cũng phải biết tôn trọng cái quyền lợi của những Con Người khác, và lên án những hành động sai trái bất kể là ai, dù ngay chính từ tổ tiên của chúng ta cho đến thế hệ hiện tại của chính mình, như những con người nhân bản thật sự như Ben Kiernan, Raphael Lemkin, người luật sư Balan gốc Do Thái đã vận động để có Qui Ước về Diệt Chủng này- những người như họ đang thực hiện và vận động ráo riết không ngừng nghĩ hôm nay.

Bằng không, thì chính những kẻ chi biết nhân danh giá trị cao đẹp nnân bản của nhân loại tiến bộ để hưởng lợi cho riêng mình, để tố cáo đối thủ mà mình không thích, nhưng sau lưng, bên trong lại ca ngợi xiển dương điều đốn mạt bất nhân của mình và của phe mình, thì chẳng qua chỉ là loài dòi bọ ký sinh đê tiện của nền Nhân Bản hôm nay mà thôi.

Khi đã thành loài ký sinh đê tiện của nền Nhân Bản hôm nay, thì không còn gì để nói, chỉ còn sự phỉ nhổ, nếu không tiếc một bãi nước bọt.
NKPTC  
Tue, 09/04/2012

Hãy nói và nói như việc mình Để Nói

Phạm nhất Thanh

Nói đến danh từ Dân chủ tự do, trong mỗi cá nhân đều luôn hiểu, đó là cái sự bảo đảm những quyền cơ bản cho toàn dân; đó là quyền giám sát, chỉ trích, đặt ngược câu hỏi khi thấy cần minh bạch một quan điểm và quyền phế truất tổ chức hay quyền lực ở mọi cấp. Vì khi có sự khác biệt, trao đổi phê bình chỉ ra cái sai và trích cái đúng thì xã hội mới có sự đào thải sai trái để hầu tìm đáp số chung đúng nhất để xây dựng xã hội.

Tuy nhiên đối với VN chúng ta, dù ngoài đời hay trên Thế Giới Mạng Ảo, vẫn còn một số dù sống hay du học tại xứ dân chủ, nhưng đã vì cái tính bán khai “Độc Quyền đấu tranh” “sư nô lệ tư tưởng vào một chủ nghĩa” của cá nhân/ hội đoàn, để rồi ngăn cản CẤM những tiếng nói khác thắc mắc về những quan điểm của họ.

Vontaire, với một câu nói “Tôi không ưa gì những điều bạn nói. Nhưng đứa nào mà bịt miệng bạn, thì tôi sẽ sống chết với chúng nó để bảo vệ cái quyền được ăn nói những điều (đáng ghét) của bạn”. Mang một ý nghĩa, mọi người có quyền suy tư và nêu ý, nghĩ đưọc cái gì thì phát nói cái đó, tranh luận ngay, chẳng cần thiết đúng hay sai. Cứ tranh luận hay thảo luận trước đã...rồi thiên hạ người ta nghe người ta tất biết nó trắng đen ra sao. Có như vậy từ cái sự tranh luận, thiên hạ sẽ dựa trên cái hay nhất để yểm trợ, hay ít ra từ mỗi cá nhân điều ý thức được cái gì đó cho mình.

Những xã hội dân chủ, tự do ngôn luận, không có cái gì mà họ không nói tới, không bàn tới. Nói thẳng không quanh co. Thánh nhân, gíáo chủ, quốc trưởng v.v cứ thế mà vạch thẳng mặt, nói thẳng lời. Không ai chửi báo chí của họ là “vạch áo cho người xem lưng” hay phản loạn. Việc họ công khai hóa những sai lầm nhơ bẩn của dân tộc họ, đất nước họ, chính quyền họ, (Kỳ thị, đàn áp, hối lộ, v.v) nó tự nhiên, và cũng chỉ là một buổi nói chuyện.

Nhất là báo chí, luôn luôn có ít nhất hai loại bài đối nghịch. Và lá thư độc giả cũng một cách trình bày rất nhiều ý kiến tương phản. Người viết bình luận, ý kiến, quang minh, thẳng thắn! Vì họ tạo ra được cái ý thức môi trường như thế, mỗi cá nhân ý thức, thực thi và thể hiện cái “quyền” của họ là nói cùng bổn phận và phê phán “vì đó là đúng” hơn là theo “tiêu chuẩn phe ta”, nên xã hội người họ hiên ngang và chẳng có ai là “làm cha” của xã hội. Lãnh tụ chính trị, tôn giáo, văn học, cũng cứ bình đẳng, không ai sợ ai cả! cái họ sợ là thiếu đì cái lý và cái quyền được nói, vì cái quyền được nói và cái bổn phận nói đối diện những sai trái và bất công, chính là những cái giúp họ có thể điều chỉnh và ngăn chặn những tệ đoan và bất công trong xã hội.

Đấy là xã hội tự do. Còn bên Á châu một số nước nói chung và VN nói riêng, ngay như trong sinh hoạt bình thường nơi hải ngoại, các diễn đàn internet chat như PalTalk, thì người người quen cái nếp “nhã nhặn”. Những lập luận thường được nghe như “Tránh voi không xấu mặt nào”. Kính trên và nhường nhịn với các ông “đại gia” trong cộng đồng. Còn đối vói chung quanh, thì một câu nhịn chín câu lành. Dĩ hòa vi quí. Và cứ thế mà cúi đầu, không ai quan sự việc xảy ra có đúng hay sai, có hợp lý công bằng hay không? tất cả “lặng thing” cười nhẹ nhàng cho êm cửa êm nhà. Người cùng phe cùng Đảng cùng Hội cùng Thuyền thì “cứ đóng cửa bảo nhau, đừng vạch áo cho người xem lưng” theo cái kiểu “đảng sai đảng sửa” đừng nói chi nhiều…quê lắm!!!. Và cứ thế từ cung cách cư xử giữa cá nhân với cá nhân, đến cá nhân với tập thể, với đất nước. Thật là một xã hội “thiên đường” anh phận, NHỊN ĐỂ ĐƯỢC YÊN!!! dần dà đi đến cái “nô lệ, nhịn, nhục và nhục, rồi đến nhục”. Thấy bất công vô lý nhưng không nói, không muốn nói và không dám nói. Bị đạp vào mặt, bị lừa gạt một cách trắng trợn, thì cứ im để “vẽ lấy đẹp đoàn kết”, hơn là phản kháng... “nhìn không đẹp”.
Trong nước đã thế! Ngoài này cũng không khác gì. Viết ra một điều gì cứ sợ người này sẽ nói thế này, người kia sẽ nói thế nọ. Hội này nó sẽ phiền lòng, Đảng kia sẽ buồn tâm, nhiều lúc nói lên hay thắc mắc về những chính sách và những hành xử trong lòng sinh hoạt Hải ngoại thì cứ sợ bị chụp mũ bằng những tội danh mơ hồ phi lý luận như “việt cộng, việt gian đánh phá Cộng đồng” vì nó đám vạch ra cái sai của “phe ta”, và cứ thế kẻ “ngông thì cứ bịp dân” và dân thì cứ “nhịn để êm” chứ không mấy ai trực diện điều chỉnh vấn đề vấn đề theo cái lẽ công bằng bình đẳng. Mặc dù đa số vẫn cứ lên án CS, kêu gọi hãy trả sự thật, nhưng chỉ là “sự thật” đối với và dành cho kẻ thù (CS). Còn những sai trái của “chúng mình” thì OK! lờ được cứ lờ. CS cũng thế, lên án hải ngoại, lên án thành phần dân chủ, nhưng “sự thật” về ĐCS, phải theo lề bên phải của Đảng CS.

Bao che được tí nào hay tí ấy. Nếu rõ ràng quá thì cười trừ, dù sao nó cũng là đồng chí! Bên Hải Ngoại thì “thôi dành hơi chửi VC”, còn cái SAI TRÁI (phe ta) thì cứ cho qua vì là… “chiến hữu”...Lúc này chưa nên nói chuyện ấy,. .v.v Và cứ với luận điệu đó, sự can đảm đối diện với sự thật ngay trong sinh hoạt hằng ngày theo dân chủ tính, cả hai Quốc Nội và Hải Ngoại không mấy ai thực thi “với phe ta”, và rồi ai nấy “im lặng”, lừa mình, gạt người, và nuôi tính nô lệ làm gương cho thế hệ sau.

Tại Việt-Nam ai móc hay phê bình Đảng CS là bị tù, điển hình như những sự kiện Lm Lý, LS Đài, Công Nhân v.v cũng như phe nhóm cầm quyền tránh né trách nhiệm “bổn phận của tiếng nói” bằng cách “bóng chuyền”, như vụ án dân oan, Trung Ương “đá về Tỉnh”, Ủy Ban Tỉnh đá xuốn Huyện, và rồi Huyện đá lên thành phố v.v với những lý do “nó xử ní, tớ không dính líu”... còn xã hội thì không quan tâm, vẫn cứ nhịn để được chín câu lành, không giúp, dù một tiếng nói ...để đánh bóng cho cái hình ảnh “đoàn kết thiên đường XHCN”.

Tại Hải Ngoại ai lên tiếng thay thắc mắc về những “giai tầng lãnh tụ” Hội Đoàn, Phe Phái thì lập tức bị chụp VC hay Việt Gian, hay nếu sự kiện quá rõ không thể chụp, thì ai nấy đá tới đá lui … “là nó không liên quan đến tớ…tớ không nói, không ý kiến”….và rồi à ơ dí dầu….đấm bùn sang ao, dù rằng biết nó vô lý.

Những tư tưởng đó, trở thành quán tính, luật, chân lý, nguyên tắc v.v trong những sinh hoạt của người VN. Hiện tượng này khiến cho một số ngưòi hữu tâm dẫu nghĩ ra được chín chắn, quyền lợi đất nước, cũng không còn dám cất tiếng nói thẳng thắn được nữa. Can đảm lắm thì tìm cách nói lượn vòng vòng..y chang như đang sống trong chế độ CSVN vậy. Tất cả dồn hết sức, miệt mài, hung hăng bảo vệ hư cấu “của phe nhóm” của một cá nhân...chứ không chú hết tâm sức vì tiền đồ, lợi ích thực chất DÂN CHỦ THẬT SỰ cho đất nưóc dân tộc.

Tất cả khó khăn của đấu tranh hôm này, là ở não trạng tư duy của mỗi chúng ta. Ngôn luận là quyền nói và bổn phận lắng nghe và lên tiếng trước những bất công, vô lý dù nhiều khi sự kiện không liên quan đến ta.

Do đó, càng cần phải thực thi cái dân chủ tính trước khi mở miệng hoặc khoác áo dân chủ trước dư luận, nếu như mệnh danh đấu tranh tranh chủ, nhưng không biết dùng cái lý để phản biện bảo vệ quan điểm ngược lại hành xử theo cái tính bán khai dân chủ của CSVN là cái “dân chủ theo quy định phe ta”, thuận ta là dân chủ khác ta là phá hoại …. bất cần phán xét theo cái lý và bằng chứng … thì đó đúng hơn là hành xử của thành phần ngụy quân tử chính trị thời cơ, treo đầu dê mà bán thịt chó một cách khinh thường sự nhận định của dư luận, chứ không phải là dân chủ tính.

Nếu không làm được những căn bản “quyền và bổn phận” của dân chủ tính, thì chẳng còn giá trị gì. Hay đúng hơn còn tệ hơn cả tờ báo chí ĐCS. Khoá miệng người ta để chỉ còn có mình nói, và những người nói như mình. Vì ít gì cũng còn có cái cớ tại Đảng nó bắt thế!

Còn nhớ Lm Nguyễn Văn Lý, năm 2002, đã xác định:
"Khi bất đắc dĩ phải sống trong những hoàn cảnh có những luật lệ ràng buộc mình một cách bất công, phi lý thì cá nhân hay tổ chức nào muốn được tự do thực sự tất không được cúi đầu tuân thủ để mình trở thành hợp pháp hầu cá nhân hay tổ chức ấy khỏi tự thắt cổ mình; trái lại mỗi cá nhân hay mỗi tập thể phải khéo léo, khôn ngoan, can đảm, và vui lòng trở thành bất hợp pháp, tự gạt các luật lệ bất công phi lý ấy ra khỏi các sinh hoạt của mình, thì cá nhân hay tổ chức ấy mới được tự do thật sự. Và đặc biệt trong lãnh vực Tôn giáo, việc trở thành bất hợp pháp như thế là điều có thể thực hiện được trong tầm tay, chỉ cần với một chút dũng lực mà thôi."
Tiếng nói ngôn luận dân chủ, chính là cái món ăn tinh thần của mỗi cá nhân trong mỗi xã hội. Khi chính mỗi cá nhân chúng ta ý thức được cái giá trị dân chủ, biết thể hiện cái quyền và bổn phận, cùng nhau cổ xúy người khác quan tâm và nói, thì những sự bất công, tệ nạn luôn sẽ bị dìm xuống mức khả quan không gây hại đến xã hội tạo ảnh hưởng xấu, cái để kiểm soát không ai bằng người đối lập và những tiếng nói dư luận, vốn dĩ thiên hạ có thể gạt người nhưng thiên hạ không thích bị gạt, vì thể dân chủ chính là cán cân công lý để phân định sự thanh lọc lựa chọn của dân chủ tính qua sự bình luận minh bạch tối thiểu.

Dân và nước VN đã bị Chế Độ CSVN lừa gạt hơn 60 miền Bắc, hơn 30 năm miền Nam, nên mặt trận hôm nay là người VN chân chính, thì không chỉ chống CSVN mà còn luôn “cảnh giác” với những “âm mưu về với XHCN” dưới chiêu bài “dân chủ” mà lại có những hành động trái ngược với “tinh thần dân chủ” làm lợi cho CS.

Vì có ích gì khi kể lại những tội ác trong quá khứ mà không đủ can đảm thực thi dân chủ tính nhìn vào những sự thiếu minh bạch đang diễn ra ở hiện tại ngay trong sinh hoạt dân chủ? Nếu mỗi cá nhân không vượt qua được những bức tường lòng của chính mình, không xếp lại được những định kiến tự tâm mình, và mỗi người - hay nhóm người - đều nhất định bảo thủ trong “phe ta” của riêng mình thì chúng ta thì khó mà qua khỏi đuợc cơn quốc nạn này. Vấn đề không phải là XHCN có “ban trả lại Tự Do hay không?” mà là con người có dám thực thi dân chủ tính đem sự thật thúc đẩy dân trí thực thi trong cái tự do tư tưởng KHÔNG vùng cấm địa. Để nói, Hãy nói và nói như việc mình Để Nói

Sydney ngày 17-11-2007

Gia Đình Việt Nam: Một Định Chế Không Tiến Hoá

Gia Đình Việt Nam: Một Định Chế Không Tiến Hoá


Gia Đình Việt Nam: Một Định Chế Không Tiến Hoá

 
 
Gia đình , với đa số người Viêt Nam, dù chung sống trong xã hội nào, gia đình vẫn tồn tại như đơn vị ở các xã hội súc vật hoặc còn bán khai, đó là chỉ  tồn tại theo bản năng sinh tồn bái vật, và duy trì việc truyền giống mà thôi, ngoài ra KHÔNG CÓ NỖ LỰC TIẾN HÓA TRAU GIỒI, NUÔI DƯỠNG  ĐẠO LÝ, NHÂN CÁCH,  GIÁ TRỊ NHÂN BẢN cho CÁ NHÂN trong tương tác XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI.
Nhưng trong hầu hết tất cả các xã hội muôn loài,  và ở mọi nền văn hóa, định chế gia đình luôn đóng một vai trò quan trong. Hơn thế nữa có rất nhiều nhà xã hội học cho rằng  gia đình là khởi điểm đầu tiên của sự hình thành xã hội chúng ta ngày hôm nay. Qua sự chung sống, sinh hoạt của các thành viện trong  gia đình đã biến loài người thành động vật cao cấp. Ở đời sống thú vật, gia đình chỉ mang ý nghịa BẢN NĂNG sinh tồn và BẢN NĂNG bảo vệ sự truyền giống.
Gia đình của xã hội LOÀI NGƯỜI có những giá trị cao hơn nữa, đó là truyền lại, nâng cao cho thế hệ đi sau những  khả năng đặc biệt như ngôn ngữ, tư tưởng, và  trên hết là những giá trị sống do chính CON NGƯỜI TỰ ĐẶT RA, không phải để chỉ sinh tồn theo lý tính vật thể sinh động vật, mà  chính là sự TỒN TẠI TINH THẦN của NỀN NHÂN BẢN.
Chính những điều này khẳng định sự độc nhất vô nhị  của LOÀI NGƯỜI so với các sinh vật khác đang hiện hữu trên trái đất, và  giá trị quan trong  này  được NUÔI DƯỠNGTHĂNG TIẾN  hay bị TRÌ TRỆ HỦY HOẠI phần lờn đều nằm ở trách nhiệm  gia đình trong xã hội loài người.  Vì ai trong chung ta cũng biết “ Gia đình là định chế căn bản của xã hội”, vì GIA ĐÌNH là nơi con người được SINH RA, NƯÔI DƯỠNG về cả THỂ XÁC lẫn TÂM HỒN, trước khi hoàn toàn bước vào sinh hoạt độc lập để tác động chung trong XÃ HỘI rộng mở ; và loài người đã trân trọng định chế này qua những lễ nghi cưới hỏi theo từng văn hóa.
Xã hội Việt Nam ngay hôm nay, dù đã hội nhập, đời sống vật chất đã thay đổi cập nhật, nhưng vẫn trì trệ lạc hậu, chậm tiến, hủ lậu và với không biết bao nhiêu tệ nạn..  Một phần rất lớn cũng do cách HÀNH XỬ TƯƠNG QUAN giữa cha mẹ con cái trong gia đình,  và nhất là việc giáo dục con cái  của hầu hết  cha me  Việt Nam với biết bao nhiêu SAI TRÁI  LẠC HẬU, do chính sự hiểu biết SAI TRÁI  LẠC HẬU của bậc cha mẹ được truyền từ nhiều thế hệ qua, nhưng vẫn chưa hề được điều chỉnh rộng lớn. Nếu có những nỗ lực khai phá như Tự Lực Văn Đoàn đều bị thế lực chính trị quyền lực tìm đủ cách trấn áp triệt tiêu, vì chính những sai trái lạc hậu của định chế gia đình lại là lợi điểm, nền tảng vững chắc của quyền lực chính trị đôc tài. Do đó nền chính trị độc tài phi nhân vẫn thường nuôi dưỡng sủ dụng những sai trái lạc hậu này để tồn tại.. Và ở Việt Nam dĩ nhiên không là ngoại lệ.
 
NÃO TRẠNG NGHỊCH LÝ: Vọng Ngoại-Bài Tân-Bỉ Nội -Cổ Hủ
 
Hiện Tượng ngày hôm nay ở xã hội đât nước Viêt Nam,  có không biết bao nhiêu trường mẫu giáo quốc tế , trường tiểu học Việt Úc , Trường Trung Học Việt Pháp, Đại Học Quốc tế, còn thiếu cái trường nào mà chưa có “Quốc tế” không vẩy? Còn thiếu vật dụng nào trong gia đình và hàng ngày của chúng ta không là hàng NGOẠI không?  Dẫu cũng có phần do mặc cảm tự ti thấp kém , nhưng cũng đúng thôi! Sính ngoại, vọng ngoại không nhất thiết là xấu là tai hại… vì sự thật  mình tệ hại không bằng người, và   phẩm chất của hàng ngoại cao và thật sự giá trị của những sản phẩm nội điạ chưa thỏa đáng được nhu câu của người tiêu dùng. Vì chúng ta đã quen thói làm cho qua chuyện, làm cho có. Chỉ biết cái lợi trước mắt thôi, làm ăn theo kiểu thời vụ. Nhưng ở đây tôi không muốn  đi sâu đề tài này vì sẽ vượt quá giớ hạn mà người Việt Nam chúng ta muốn đọc.
Thế nhưng tại sao trong não trạng của những con người  BIẾT và HIỂU để yêu chuộng cái hay, cái tốt cùa nước NGOÀI như  trên  lại có những suy nghĩ nhận định quái đản ngược ngạo thể hiện  ra hàng ngày tại Việt Nam như thế này đây :
-         “Bố ơi, bố làm vây là không đưọc, vì nếu bỏ đi cái cột bê-tông này là sai hết kết-cấu của bản vẽ và có thể làm nhà xập!”
-         “Nhà tao, tao xây gì bỏ gì là quyền tao, mày biết gì mà nói;  Trứng mà đòi khôn hơn rân”! ”
Dù  “quả trứng”  là kiến trúc sư  đã ra trường gần 10 năm kinh nghiệm , và đang làm  việc cho một công ty xây dựng  NƯỚC NGOÀI -  và “Rận” thì  ngoài tuổi già , còn học vấn chuyên môn chưa hết lớp 10! 
-         “Con biết không, thằng em  con nó mê con bé A  quá. Mẹ đọc được trong thư của con A viết cho em con là; “….sinh nhật em,  món quà em mong không phải là nước hoa; túi sách, nữ trang  như anh đã đoán. Em chỉ mong hôm đó có anh và được anh hôn em..”  Mày nghĩ coi! con gái con đứa mà như vậy,  đúng là mất nết!”
-         “Mẹ, tại sao mẹ lại đọc thư  RIÊNG TƯ của bạn gái nó gửi cho nó?”
-         “Tao là mẹ nó, tao có trách nhiệm theo dõi và bảo vệ nó!” 
ĐỨA CON  “nhỏ dại”  kia năm nay mới “chưa đầy  22 tuổi”,  đang được mẹ cho đi học tại trường đại học QUỐC TẾ.  Và Mẹ  có quan hệ yêu  đương trai gái, lấy chồng và CÓ MANG, sinh con làm Mẹ  ở cái tuổi đời  “còn dại dột cần được bảo vệ,”  mà theo quán lệ của NƯỚC NGOÀI đã thành người lớn  đôc lập tự chủ  “năm 21” tuổi đời, tuổi được ứng cử  tham chính làm dân biều, bộ trưởng v.v
Ôi thôi!  Một dân tộc biết cái HAY , cái TỐT, cái PHẨM CHẤT của NƯỚC NGOÀI,  để yêu chuộng hàng ngoại đến thành căn bệnh SÍNH NGOẠI, thế mà về mặt tư tưởng suy nghĩ thì mục nát cổ hủ.  không có chỗ cho một mặt hàng  GIÀ TRỊ NHÂN PHẨM, TƯ TƯỞNG  BÌNH ĐẴNG của NƯỚC NGOÀI  nào chen lọt, chẳng hạn là tinh thần TÔN  TRỌNG  NHÂN  PHẨM  BÌNH  ĐẲNG,  tôn trọng TÍNH  RIÊNG  TƯ … ít nhất là chen lọt vào giữa quan hệ CHA MẸ và CON CÁI.
 
NHỮNG CÁI NGU TƯỞNG KHÔN TRONG TỤC NGỮ:
 
Với hai ví dụ nhỏ bên trên đã cho chung ta thấy rõ suy nghĩ ngược ngạo sai trái, phi lý của CÁC ĐẤNG CHA MẸ. Còn không biết bao nhiêu ví dụ trong cuộc sống hàng ngày, với những suy nghĩ cực kỳ nghịch lý được xuất phát từ  những “CHÂN LÝ KHÔN NGOAN” của cả dân tộc được nuốt chửng hàng ngàn năm  không  hề kiểm nghiệm, vì nếu kiểm nghiệm đã bị chứng minh SAI BÉT..và  chắc đã không còn tồn tại đến nay như những câu:
-            “Áo mặc không qua khỏi đầu ”
Câu tục ngữ này, ngay ở nghĩa đen cũng chứng tỏ cha ông đời trước của chúng ta sai lầm  kém cỏi. Việt Nam chúng ta xưa, nằm trong vùng ôn đới, có đủ bốn mùa nắng mưa lạnh giá v.v (Sau này DI CHUYỂN về phương NAM, rồi  có thêm miền NAM, với sáu tháng mùa mưa và sáu tháng mùa nắng) thế nhưng dân tộc ta ngu độn tới độ không sáng tao ra được cái áo lạnh phủ đầu phủ tai cho ấm, hay cái áo mưa phủ đầu.  Để  rồi KHÔNG THẤY CÁI ÁO NÀO mặc qua khỏi đầu, dù các dân tộc phía Bắc như Mông Cổ đã có. Điều này cũng minh chứng lớp cha ông Việt Nam kém giao lưu hoặc có giao lưu mà ngoan cố, thấy nhưng không học hỏi, không điều chỉnh. Phải đợi khi  cho thằng Tây nó vào đè đầu rồi du nhập áo mưa, áo lạnh  vào Việt Nam, mới biết thêm NHƯNG NHẤT ĐỊNH KHÔNG SỬA ĐỔI cái NGU NÀY. Do đó  câu nói ngu ngược  “Áo mặc không qua khỏi đầu”  vẫn tồn tại như “chân lý”. Áo mưa, áo lạnh , áo gió, mà mặc không qua đầu thi lạnh mỏ ác lắm! (bù khú cho đời thêm vui).
Và nếu nghĩa bóng mà đúng là thế hệ con cái KHÔNG THỂ KHÔN HƠN thế hệ BỐ MẸ  thì thế hệ đi sau mỗi ngày một  ngu hơn thế hệ đi trước, vậy thì loài người bây giờ  đang bốc cứt ăn vơi nhau! Hay thậm chí “lùi hóa” thành khỉ thành vượn, hoặc tệ hơn thành dòi hết cả rồi…
-            “Cá không ăn muối cá ươn,  Con cãi cha mẹ trăm đường con hư”
 Đấy cũng là do thiển cận, nghĩa đen là vì thời đó không có tủ lạnh hay có băng tuyết để giữ cho cá tươi, nên phải ướp muối. Rồi ngay cả nghĩa bóng, cứ xét sự kiện lịch sử dễ thấy dễ hiểu nhất mà xem; chúng ta hãy cứ dựa vào cái khôn ngoan chân lý này rồi “hồ đồ” lên án rằng :  Tất cả những ai theo Thiên Chúa Giáo, Phật Giáo tại Việt Nam hiện nay đều là con cháu , dòng dõi của những đứa mất dậy hư hỏng cãi lời cha mẹ thuở trước. Không nghe lời cha mẹ họ vì họ  chối bỏ  tín ngưỡng tôn giáo trước đó của gia đình tổ tiên, để đi theo mấy lão sư Ấn Độ, Trung Hoa, rồi sau này lại đi theo một bọn cố đạo Tây phương,  tôn giáo ngoại lai với cái tên là “Đại Thừa, Tiểu Thừa”, và “Công Giáo” Tin Lành Tin Dữ đủ trò. Vì nếu không  MẤT DẠY TRĂM ĐƯỜNG HƯ ĐỐN như vậy, thì làm sao họ có thể theo một tín ngưỡng, tôn giáo mới được?
Ấy nhưng thực tế mấy ngàn năm, mấy trăm năm nay, có thấy họ trăm đường hư hỏng không? Hay là tốt đẹp hư hòng là tùy người và do những nguyên nhân yếu tố khác, chứ KHÔNG PHẢI là do CÃI LẠI làm KHÁC ĐI, LÀM MỚI HƠN so với CHA MẸ?
 
ĐÀN ÁP KHỦNG BỐ CON CÁI:
 
Đấy cũng mới chỉ là hai ví dụ, trong rất nhiều câu nói  chúng ta đươc nghe hàng ngày nơi cửa miệng của các cha mẹ Việt Nam. Họ nói như một cái máy bất chấp lý lẽ,  không hề kiểm chứng thực tế, nhưng khi con cái chỉ cho họ cái sai của họ. Họ không thèm lắng nghe con cái mà ngược lại họ tìm đủ mọi cách, mọi giá  đàn áp và khủng bố con cái khi con cái họ thể hiện được giá trị tinh thần TRÍ TUỆ, giá trị NHÂN PHẨM, NHÂN QUYỀN BÌNH ĐẲNG.
Trong mỗi lần cha mẹ “giáo dục” con cái mình, họ không từ bỏ bất cứ ngôn từ thô bạo tục tĩu nào : “Đồ óc heo, Địt mẹ mày thằng con mất dậy,” .v.v  đây không còn là mạt sát mà là miêt thịt và xúc phạm giá trị nhân phẩm của con cái.  
Không còn hình thức đánh đập con cái nào tại Việt Nam không có, không còn món vũ khí hỏi cung nào mà cha mẹ Việt Nam không sử dụng: Roi tre, roi mây, roi đuôi cá đuối, roi giây điện,..ngày hôm nay nhân loại còn không cho phép con người dùng những biện pháp tra tấn như vậy với các tù binh chiến tranh. Đây là hành động đàn áp con người bằng bao lực và  phi nhân tính.
Gian manh hơn nữa là họ dùng biện pháp phong tỏa kinh tế, bằng những hình thức: “ Mày không làm ý tao thì từ mai trở đi không nhận đồng nào của tao”  đây là việc làm gi đây? Đây chính là chính sách bóp bao tử, bao vây kinh tế. Dùng áp lực kinh tế để người khác tuân thủ làm theo ý  mình,  đó là một việc làm phi giáo dục.
Nếu không thành công nữa thi cha mẹ thường dùng biện pháp cuối khủng bố tinh thần, dùng tình cảm làm áp lực con tin: “ Mày không nghe lời tao tao sẽ từ mày”. Về phương diện sinh vật học thì việc “từ con cai” là không thể, vì không cách nào cha mẹ có thể lây đi hoặc thay đổi DNA của chính mình hoặc của con cái. Về mặt con người  không thể nói một tiếng “từ con cái” hoặc “ yêu con cái”  thì là có tình cảm với con cái. Đây chính là hành động khung bố tinh thân với con cái. Mang tình cảm cha me ra làm áp lực cho con cái.     
Ở hầu hết các nước “NGOẠI” đều ngăn cấm và “trừng trị” nếu chỉ làm những điều đó với bất kỳ một ai, vì đó là vi phạm nhân phẩm, nhưng  với người Việt Nam chúng ta cho đế hôm nay  thì đó là chuyện hàng ngày tại hầu hết các gia đình.
 
CON CÁI LÀ ĐỒ TRANG SỨC:
 
Suy nghĩ và hành xử như thế, vậy thì Họ, các bậc cha mẹ nghĩ con cái họ sẽ học những cái  gì nơi những thứ  “quốc tế” ấy đây?  Trong khi ƯỚC VỌNG, chủ đích, và lối “huấn luyện” của Họ chỉ có thể biến con cái Họ thành những nhân cách chỉ biết cúi đầu tuân phục  “người trên” với tinh thần  bái vật, trọng của cải, sính quyền lực.  Như vậy chúng ta cũng “đoán” được là Họ gửi con cái đi học chỉ để có thêm phương tiện  “gọi dạ bảo vâng” cao cấp hơn, và kiếm tiền nhiều hơn. Ôi quả thật vĩ đại thay một “hệ tư tưởng sống” của một dân tộc!
Mẹ kiếp!  Thế là thế nào? Tiên sư bố nhà chúng nó! Họ muốn biến con cái của họ thành VẬT TRANG TRÍ, HÌNH NỘM hay MÁY MÓC?  Con cái chỉ được phép làm theo cái mà HỌ muốn. Nhưng trong chính thế hệ của họ, có những người  lúc thời non trẻ, từng là những người coi chuyện “cha mẹ đặt đâu con ngôi đó” là cổ hủ,” sai trái áp chế!  Chính họ có những kẻ  từng  “đả cựu nghinh tân”. Chính họ là những người mua cho con cái họ những bộ quần áo Tây. Chính họ là những người cho con cái họ học tại những trường QUỐC TẾ. Thế thì  phải chăng  trí não những người này đã bị biến dạng “teo lại” theo tuổi già? Hay là ngày xưa họ chỉ a dua mà không nhận thức, theo tính bày đàn của thời đại?
Họ chỉ muốn con cái thành ông bác sĩ, bà nha sĩ v.v theo ý nghĩ ước muốn đối trọng tăm tiếng, danh dự khen chê với hàng xóm, xã hội bên ngoài… Mà có bao giờ họ ngồi xuống lắng nghe nguyện vọng của những đứa con, những con người có ước vọng riêng tư, khả năng riêng biệt của chúng  không? Hãy nhìn ánh mắt đầy kiêu hãnh của các ông bố bà mẹ khi đi bên cạnh và giới thiêu con mình: “Đây là B con tôi, cháu la Bác sĩ, dược sĩ…!” Không biết dùng từ nào diễn tả ánh mắt của họ lúc đó, nó giống như hai viên kim cương được chiếu đèn vào một đêm không trăng không sao LONG LANH RỰC SÁNG,  tựa như  hai bong đèn Pha của những chiếc Trực Thăng khi rọi bắt tội phạm.
Những nếu “buộc phải” đi cạnh một đứa con chỉ là công nhân, hay đang thất nghiệp  thì thật bất hạnh cho họ khi có ai đó hỏi về con của họ, hai mắt của họ xup xuống, như những đứa trẻ khi ăn vụng bị bắt quả tang. Ánh mắt họ đầy xấu hổ và tội lỗi khi phải thú thật là con mình chỉ là công nhân!
Các bạn thử nghĩ coi  chuyện gì sẽ xẩy ra nếu vì một lý do nào đó không còn những người làm việc hốt rác trên trái đất này, hay nói theo đúng qui cách kinh tế cung cầu  là khi chúng ta có nhiều bác sĩ, nha sĩ, và thiếu công nhân hãng xưởng làm việc? Không chỉ là nỗi đe dọa sẽ sống chung với đống rác và vật giá leo thang khan hiếm, mà nghề hốt rác sẽ đắt giá, giá lao động công nhân sẽ cao và thu nhập bác sĩ , nha sĩ sẽ thấp xuống, cạnh tranh nhau chí chóe.. Và kết quả là chính một số trong những bác sĩ, nha sĩ này sẽ đổi nghề, thậm chí có thể thành những ông bà hốt rác, anh chị công nhân v.v Tất cả chỉ là nhu cầu và đáp ứng hỗ tương của xã hội kinh tế. Vì vây chúng ta thấy rõ  trong xã hội không có  nghề nào cao quý hơn nghề nào.  Mỗi nghề nghiệp đều có giá trị riêng và giá trị cống hiến cho xã hội ngang nhau;  và nhân phẩm con người, dù họ làm bất cứ công việc gì, cũng đều bình đằng. Nhưng chỉ có nhân cách hành xử, sự thể hiện đạo lý lương tâm chức nghiệp của mỗi cá nhân trong tương quan xã hội mới phân biệt xấu tốt, khinh trọng giữa con người. Hành xử bất lương phi nhân thì làm nghề gì , chức vụ gì cũng hạ cấp đáng khinh.
Vì vậy chúng ta không lạ gi khi nghe tin một thanh niên Việt Nam sống tại Mỹ giết chết mẹ mình vì lý do bị mẹ bắt đi học y khoa! Và chẳng hiếm hoi gì các thanh niên Việt Nam tự tử khi thi vào đại học ..vì không thể học được khi không đúng năng khiếu ý nguyện! Và cũng có không biết bao nhiêu người thành nghiệp, thành danh cống hiến cho xã hội nhân loại  trong biết bao lãnh vực khác, mà không phải là bác sĩ nha sĩ, kỹ sư, như chúng ta vẫn đang chứng kiến khắp nơi trên quả đất này.
 
QUAN NIỆM QUYỀN LỰC CỦA CHA MẸ TỪ ĐÂU MÀ CÓ?
 
Con cái, nói cho cùng,  là kết quả “trò chơi tiêu khiển tình dục” của cha mẹ. Đứa con không hề được hỏi ý kiến có muốn ra đời hay không? Thế mà ngày hôm nay trong tiềm thức của  cha mẹ Việt Nam vẫn còn ý niệm: 
“Công ơn sinh thành”và như vậy “Tao sinh ra may được thì giết mày được” ..
Xét xem, hầu hết các tín ngưỡng tôn giáo đều cấm hành động phá thai, giết người dưới mọi hình thức, hành động phá thai  đã bị cấm huông chi giết đứa con đã ra đời!? Hay về luật pháp thì hầu hết các nước “tiên tiến” đều cấm phá thai sau tháng thứ 3 (vì sau tháng thứ 3  bào thai đã cảm nhận được thế giớ bên ngoài và đã đuợc coi là con người) ngoại trừ những trường hơp ngoại lệ sức khoẻ của người mẹ không cho phép, đứa bé có thể bị những khuyết tật khi ra đời v.v..Tại sao? Chính vì GIÁ TRỊ TUYỆT ĐỐI của CON NGƯỜI và GIÁ TRỊ này KHÔNG THUỘC QUYỀN SỠ HŨU của BỐ MẸ.
Chính vì vậy mà “Quyền Lực sở hũu đứa con” của cha mẹ trên thực tế rất giới hạn. Nhưng trách nhiệm của cha mẹ thì rất lớn, đó là nuôi dưỡng và tôn trong  con cái như là một con người, bởi vì sao vậy? Vì ngay từ khi cất tiếng khóc đầu đời thì đứa con đã là một thành viên chính thức của gia đình và xã hội với đẩy đủ mọi giá trị nhân phẩm như mọi thành viên khác đã có mặt trước nó. Giá trị nhân phẩm này KHÔNG LÀ SẢN PHẨM hay SỞ HŨU của BỐ MẸ.  Và  GIÁ TRỊ NHÂN PHẨM này  được tiềm thức thừa nhận qua thể hiện tình thương, sự  vun vén, chăm sóc, giáo dục  con cái, chứ không phải vì  con cái  là một món đồ vật hay một cục bột để cha mẹ nhào nặn theo y mình muốn.  Vì  thế, niềm tự hào, sự hãnh diện  của cha mẹ chính là tạo được điều kiện cho con cái phát triển tòan bộ kỹ năng riêng tư của chúng, và quan trong hơn, cha mẹ cưu mang thiên chức chỉ cho con cái biết rõ giá trị làm người của chúng.Cho nên cha mẹ phải tôn trọng con cái như một chủ thể độc lập, phải bỏ đi cái quan niệm con cái thuộc quyền sở hữu của cha mẹ như một vật dụng.
Nhưng chính vì hiện nay trong tiềm thức của rất nhiều cha me  Việt nam vẫn còn tư tưởng sai lầm là họ có quyền “ sinh - sát” con cái nên mới có những hiện tượng coi con cái như những vật sở hữu của họ để đánh bóng, hay làm đồ trang sức cho chính họ và họ có quyền tra tấn khủng bố con cái về thể xác lẫn tinh thần như họ muốn.
 
CHA MẸ LÀ NHỮNG TÊN CÔNG AN ĐẦU TIÊN:
 
          Cho tơi hôm nay vẫn còn tồn tại những cách giáo dục con cái hủ lậu như tôi đã trình bày trên, thì chúng ta thấy rõ  sự tác động  cha mẹ không chỉ có ảnh hưởng tới  con cái  tới năm chúng 18 tuổi hay 21 tuổi, khi chúng đã trưởng thành  mà sẽ đi liền suốt cuôc đời của con cái và sự bất cập trong giáo duc con cái có thể có liên hệ tới nhiều thế hệ đi sau nữa. Vì con cái quý vị sẽ lại giào dục con cái chúng như chúng đã được cha me chúng giáo dục ngày nào trước đây.  
Qua các cách “giáo dục” sai lầm được trình bầy  ở  các phần  trên đã biến con  cái thành một người thụ động, chỉ còn biết “tuân lênh”  người trên như một cái máy, tuân thủ quyền lực của kẻ mạnh một cách tuyệt đối, tính chất vấn, khả năng tư duy độc lập hoàn toàn bị tiêu diệt ngay từ trong gia đình bởi cha mẹ.
Chính cha mẹ là những người đầu tiên thay cho bọn cầm quyền “tẩy não” con cái, biến con cái thành những kẻ “tự nguyện làm nô lệ” chỉ còn tuân phục kẻ trên một cách tuyệt đối và đàn áp những người yếu hơn mình.
Vì vậy mà bọn câm quyền luôn nỗ lực đẩy mạnh cách “giáo dục” này. Trước kia thì  lấy  những cái “tam tòng tứ đức” “ Tam cương ngũ thường”, và ngay nay thì chúng không ngừng đưa ra, đề cao  những giá trị ảo, nào là bằng cấp, địa vị xã hội, coi trọng giá trị vật chất và quyền thế… chúng vun đắp cho cách “giáo dục” con cái hủ lậu, độc tài  của cha mẹ, để biến cha mẹ thành những người “công an” đầu tiên răn đe ngăn cản và trừng phạt con cái mình thoát ra được cảnh “tự nguyện làm nô lệ” mà cha mẹ chúng đã và đang vô tâm vui vẻ chấp nhận.
 Khi con cái mới chớm dự định làm những việc có lợi ích chung cho cộng đồng thì chính cha mẹ là những người đầu tiên ngăn cản, với những “triết lý” thật uyên bác cao minh là “ăn cơm nhà làm chuyện vác tù và hàng tổng”. 
Nhưng  chỉ cần một chút suy nghĩ nhìn lại trên bàn thờ nơi trang trọng nhất của mỗi gia đình Việt Nam  thì chúng ta thấy ngay nghịch lý, họ đang thờ phượng những người  “ăn cơm nhà làm chuyện vác tù và hàng tổng” như: Giê Su;  Thich Ca, thậm chí cũng có thể kể luôn Karl Marx,  Engel, và hầu hết các vĩ nhân thực  sự  trong lịch sử nhân loại, những người đã khai hóa và thúc đẩy cho nhân loại tiến bộ;  tất cả đều là những người “ăn cơm nhà làm chuyện vác tù và hàng tổng”!
Gia đình của Việt Nam vẫn là nơi hun đúc những toan tính so đo vật chất, trong đó cá nhân được huấn luyện sống ích kỷ bảo thủ lợi nhuận, và ngược lại khước từ chối bỏ và triệt tiêu giá trị sống, giá trị tự thân như nhận thức nhân quyền, dân quyền, tự do, dân chủ.  Gia đình của Việt Nam , trong đó Cha mẹ vẫn hành xử như những tên bạo chúa, duy trì tính nô lệ thuần phục, và hủy diệt mầm nhân bản, sức sáng tạo khai phá nơi con cái. Những ý thức về nhân phẩm, tự do, dân chủ dân quyền, nhân quyền đều bị triệt hạ từ trứng nước, bằng mọi thủ đoạn cần thiết.
 
Cách Giải Quyết Vấn Nạn Trong Việc Giao Dục Con Cái Của Người Việt Nam:
 
Qua những phân tích trên chúng ta thấy rõ sự bất cập trong việc giáo dục con cái của người Việt Nam đóng một vai trò rất lớn trong vấn nạn  trì trệ phát triển của xã hội Việt Nam  ngày hôm nay, vì vậy việc thay đổi cách giáo  dục con cái của người Việt Nam là một trong những điều cấp thiết  cần phải thay đổi. Việc làm này không chỉ với các quý vị đang là cha mẹ, mà hơn thế nữa là thế hệ các bạn trẻ, những người sẽ là cha mẹ trong tương lai rất gần.
 
Với những người đang là cha, là mẹ:
 
Dưới đây là một số  ĐỀ NGHỊ các bạn trong cách giáo dục con cái, hy vọng sẽ giúp được cho các bạn một ít hành trang trong thiên chức tự nguyện nhưng quan trọng đang chờ đón các bạn:
·                    Tạo cho con cái một cái nhìn tổng quát của  sự việc, trình bầy cho chúng bằng dẫn chứng cụ thể để chúng có thể nhận ra được kết quả của sự việc. Không áp đặt, cho dù bất cứ điều gì, có nghiã là mọi quyết định trong gia đình đều được thảo luận và lấy ý kiến chung của mọi người, con cái cảm nhận được sự bình đẳng, giá trị nhân phẩm và nhân quyền của mình được tôn trong, làm như vây cha mẹ sẽ giúp cho trẻ định hình tính tự chủ, lòng tự tin ngay tại trong gia đình, đó là những yếu tố quyết định cho sự thành công của con cai sau này.
·                    Tạo cơ hội gần gũi con cái qua những hình thức như: Những cuộc nói chuyên với con cái, sinh hoạt gia đình  đi chơi, bữa ăn gia đình .v.v. qua đó  cha mẹ ghe được nhưng tâm tư nguyện vọng của con cái. Để gần gũi con cái mình hơn.
·                    Tìm kiếm, động viên khuyếnh khích con cái phát huy những khả năng, tư duy của riêng mình, vì mỗi cá nhân có những mặt mạnh riêng biệt. Sự đam mê chỉ có khi con người ta làm việc mà họ yêu thích, và khi làm việc với sự đam mê thì chắc chắn sẽ gặt hái những kết quả tốt đẹp.
·                    Khen thưởng con cái khi nó đạt được một thành quả nào đó cho dù kết quả đó có nhỏ bé như thế nào! Vì đây là động lực để con cái làm tốt hơn nữa trong tưong lai. Và phải công bằng không thiên vị với con cái, thưởng phạt phải công minh.
·                    Cho con  cái những lời khuyên, hướng giải quyết khi nó gặp khó khăn, những phải để con cái chọn lựa cách giải quyết khó khăn của chúng. Vì như vậy chúng mới có thể rèn luyện được tính tư duy độc lâp, và khả năng quyết đoán trước mọi vấn để trong cuộc sống sau này.
·                    Điều tối kỵ là không nên dùng bạo lực trong bất kỳ trường hợp nào, vì bạo lực không  những chẳng giải quyết vấn đề mà còn làm gương xấu cho con cái về bạo lực sau này, và chỉ khiến con cái thành thụ động, ù lì, làm thui chột tính tự tin, năng lực sáng tạo.
Trọng trách của cha mẹ trong việc giáo dục con cái thật nặng nề vì nó không chỉ có ảnh hưởng tới sự thành công - thất bại của một con người mà hơn thế nữa sự tác động vào xã hội. Vì cha mẹ không chỉ đào luyện một “người con” trong ý nghĩa yêu thương,   mà là nuôi dưỡng một chủ thể tương lai của xã hội nhân loại.
 Tuy nhiên, theo tôi nghĩ nó cũng rất dễ dàng nếu cha mẹ giáo dục con cái luôn dựa trên: Tình yêu  – sư tôn trọng và lắng nghe con cái. Khi các bạn luôn tâm niệm rằng  đứa bé  không chỉ là con của các bạn mà là một con người. Thì tôi tin chắc các bạn sẽ thành cộng trong việc giáo dục con cái. Mến chúc các bạn trẻ thành công trong xứ  mạng thiêng liêng làm cha, làm mẹ của các bạn.
 
Với các người con:
 
“Không ai có thể cứu mình khi mình không biết tự cứu mình”,nếu như chính các bạn là nạn nhân của cách giáo dục sai lầm trên mà các bạn không biết cất tiếng nói tự bảo vệ lấy chính mình thì tôi nghĩ khó có thể có ai giúp các bạn nói đúng hơn là không có ai có thể giúp các bạn.
 Khi các bạn  bị đối xử bất công do cách giáo dục hủ lậu mà  tôi nêu trên, hay do một hủ lậu trong cách giáo dục con cái mà tôi khiếm khuyết không nêu ra được, mà các bạn chỉ biết im lặng cam chịu, không giám nói cho cha mẹ biết những sai trái, bất cập của cha mẹ, đó là chính các bạn tự đồng ý và hơn thế nữa tiếp sức cho việc tự biến bản thân thành cái máy chỉ biết làm theo lập trình, bạn có thể biến thành tất cả mọi thứ những không phải thành cái mà chính bạn muốn chở thành.  Nếu những lúc như vậy  các bạn tự an ủi mình; mình sẽ dậy con cái của mình khác với cha mẹ mình, thì đây không phải tự an ủi mình nữa mà là tự lừa dối mình. Vì nếu thực sực vậy thì không còn những bất cập trong cách giáo dục con cái của người Viêt Nam mà tôi nêu trên, vì những điều bất cập ấy không phải mới có từ thế hệ của cha mẹ các bạn. Mà nó đã tồn tại từ rất lâu rồi trong cách giáo dục của người Việt Nam từ rất nhiều thế hệ trước, và tôi tin chắc là chính cha mẹ của các bạn cũng đã từng  hy vọng như các bạn; “ mình sẽ dậy con cái của mình khác với cha mẹ mình” . Nhưng rồi các bạn thấy họ đã làm gì khi họ là cha, là mẹ; họ có làm khác đi không hay lại làm y như cha mẹ họ đã làm với họ?
Vì vậy khi đứng trước những cái bất cập, sai trái trong cách giáo dục con cái của chính cha mẹ mình, chính  các bạn phải cất tiếng nói, phải chỉ ra cho cha mẹ thấy những sai trái của cha mẹ. Trình bảy thẳng thắng nhưng không hỗn, nói bắng lý lẽ , dẫn chứng không như cha mẹ luôn chỉ áp đặt không cần biết đến lý lẽ.  Muốn làm được điều này thì các bạn luôn phải biết chất vấn mọi vấn đề.
Không bao giờ “dạ cho có” – “vâng lấy lệ”, mặc dù biết điều đó là hoàn toàn sai và phi lý, nhưng chỉ vì nghĩ trong đầu;  nói cũng vậy cha mẹ trước sau gì cũng không tôn trọng y kiến của mình. Vì cứ như vậy lâu ngày sẽ thành thói quen không những chỉ là thói quen của cha mẹ là át đặt các bạn mà hơn thế nữa các bạn cũng quen dân và tính đối kháng, tư duy độc lâp của các bạn sẽ chết đi và rồi vô tình tới một ngày nào đó các bạn sẽ làm với con cái các bạn rập khuôn không khác gì cha mẹ các bạn đã làm với các bạn.
  Quên ngay y nghĩ ; “người lớn bao giờ cũng đúng” nếu có nơi các bạn, vì hầu hết tất cả mọi cái sai, bất cập, tiêu cực trong mọi xã hội hiện nay như chiến tranh, ô nhiễm môi sinh, bất cập của giáo dục con cai trong gia đính .v.v. đều do người lớn gây ra không phải do các người trẻ như các bạn. Vì vậy không thể nghĩ “người lớn luôn đúng” mà đúng ra là người lớn thường luôn sai và sai trầm trọng trong mọi khía cạnh của cuộc sông không chỉ trong giáo dục con cái.
Sau cùng tôi cầu mong các bạn thành công trong công cuộc cách mạng về cách giáo dục trong gia đình, và tin tưởng vào sự thành công của các bạn. Vì biết các bạn là thế hệ trẻ rất thông minh chỉ cần một chút can đảm, một chút tự tin là tôi tin chắc các bạn sẽ thành công          không những trong công cuộc cách mạng về giáo dục trong gia đình, mà sẽ còn là những người con tuyệt vời. Các bạn hãy luôn nhớ:
“ Việc làm hôm nay của các bạn không chỉ quyết định cho riêng tương lai của các bạn, mà còn cho cả tương lại của  xã hội nơi các bạn đang sống và không chỉ thế  còn là quyết định cho tương lai của nhưng thế hệ đi sau các bạn”.

Thiên Chương NV

 
Vấn đề là TẠI SAO KHÔNG TIẾN HÓA??? và muốn Tiến hóa thì phải làm sao cụ thể?
** Khi nói đến GIA ĐÌNH là nói đến một định chế gồm các thành phần không thể thiếu (indispensable elements):
-(1)Chồng,(đàn Ông, Con Trai) + (2) Vợ (Đàn Bà Con Gái) = Cha Mẹ
- (3)Con Cái..
Vây GIA ĐÌNH không tiến hóa là do MỖI MỘT THÀNH TỐ , 1,2, và 3 trong định chế này KHÔNG CÓ TÁC ĐỘNG TIẾN HÓA..
Vì nếu chỉ cần MỘT THÀNH TỐ trong định chế này nỗ lực TIẾN HÓA, thì tự nhiên NÓ sẽ kéo theo các thành tố khác cùng tiến hóa.. Cũng như trong xã hội, chỉ cần một số người NHẬN THỨC , rồi NỖ LỰC TÁC ĐỘNG thì cả XÃ HỘI sẽ đều TIẾN HÓA như chúng ta đang chứng kiến.
Cho nên muốn Gia Đình tiến hóa, thì:

1- từng gã đàn ông, con trai, phải biết nhận ra nhân phẩm giá trị của phụ nữ để có ứng xử nhận thức bình đẳng tôn trọng PHỤ NỮ...để khi LÀM CHỒNG thì biết TRÂN TRỌNG VỢ MỈNH BÌNH ĐẲNG. rồi sẽ biết trân trọng giá trị nhân phẩm của CON CÁI MÌNH.

2- Từng mụ đàn bà, con gái, phải biết nhận ra giá trị tự thân của mình để BIẾT CÃI LẠI, DẠY BẢO bọn đàn ông, đám bạn TRAI của mình .. khi chúng nó SAI TRÁI hách dịch RA DÁNG KẺ CẢ "ĐÀN ÔNG".. Rồi sau sẽ biết làm Vợ bình đẳng để răn đe sửa sai CHỒNG, và làm MẸ biết DẠY CON CÁI ĐÚNG ĐẮN trong sự trân trọng giá trị nhân phẩm của CON CÁI..

3- Con Cái cũng phải nỗ lực BIẾT CÃI LẠI CHA MẸ để minh định đúng đắn giá trị nhân phẩm KiênTHỨC của mình..Việc đầu tiên là cố gắng tự lập sau khi 18 tuổi.. Vì thường Đàn Bà và Con Cái bị "bóp cổ" là do lệ thuộc tài chính kinh tế, nơi ăn chốn ở. Cho nên mới có những ngôn ngữ thủ đoạn hăm dọa "nếu....vậy thì đi ra khỏi nhà này v.v.."

Sau đó phải can đảm bảo vệ quan điểm của mình cho đến cùng, khi biết mình có đủ bằng chứng xác minh đúng đắn.. để "dạy ngược" lại bố mẹ khi cần thiết..
Chỉ cần MỘT trong BA thành tố của Gia Đình này mà NỖ LỰC MINH ĐỊH GIÁ TRỊ TỰ THÂN của mình, thì chắc chắn sẽ KHAI MỞ được cho các THÀNH TỐ còn lại..

Giải pháp nó nằm ngay ở TRONG mỗi một CÁ NHÂN CON NGỪOI.. Vì CÁ NHÂN mới chính là đơn vị nền tảng của CẢ XÃ HỘI.. nó cũng chính là đơn vị nền tảng của ĐỊNH CHẾ GIA ĐÌNH. "Thân Tu nhiên hậu Gia tề", nếu mỗi cá nhân thành tố này nhận thức được giá trị tự thân (nhân phẩm bình đẳng) trước khi gặp nhau thành lập GIA ĐÌNH thì tất nhiên GIA ĐÌnh phải tốt và tiến hóa tốt.. Như vậy cả xã hội đất nước cũng sẽ tiến hóa tốt hơn.

Thân Tu nhiên hậu Gia Tề,
Gia Tề nhiên hậu Quốc Trị"
NKPTC

Khi một xã hội mà chỉ còn dựa trên tính thực dụng.

 Khi một xã hội mà chỉ còn dựa trên tính thực dụng.

“Mặc kệ nó” là đặc điểm nổi bật của một xã hội kém nhận thức, tại những xã hội như vậy con người sẽ chỉ sống theo bản năng của họ. Một trong những nguyên nhân  tạo ra tệ nạn này đó là vì xã hội chúng ta thiếu vắng hầu như hoàn toàn những người tiên phong giám dấn thân vận động  để nâng cao nhận thức của con người. Để rồi cho tới ngày hôm nay những cái sai từ ngàn xưa vẫn tồn đọng rõ nét trong “văn hoá Việt Nam” ngay hôm nay, song song đó con người luôn bị các thế lực như tôn giao – chính quyền  tìm mọi cách ngăn cản sự phát triển về mặt nhận thức của con người để bọn chúng dễ cai trị.

Một dân tộc chỉ có “rận” thức và trí ngủ:

          Câu hỏi đầu tiên lóe ngay  lên trong đầu của Người Việt Nam hôm nay trước khi làm một điều gì không thuộc lãnh vực bản thân, như khi “giúp đỡ” ai khác, nhất là  làm  một việc có liên quan tí gia vị của xã hội, là: “Việc đó mang lại lợi lộc gì cho tôi; người này sau này có thể giúp lại gì cho tôi!?” Câu trả lời cho những câu hỏi như thế đã là thước đo, là nguyên lý nền tảng hành xử “xã hội” của người Việt Nam.

          Người Việt Nam  đã bị nhuần nhiễm những suy nghi khôn lỏi được ca ngợi là khôn ngoan bén nhậy này từ bao thế hệ nay, và nó còn lưu lại rõ ràng trong các câu nói cửa miệng hàng ngày của họ, để “giáo dục” cũng như khích lệ hoặc cảnh cáo lẫn nhau khi thấy ai đó, nhất là người trong gia đình làm một việc có liên quan đến công đồng như :

          “ Ăn cơm nhà làm việc vác tù và hàng tổng”
          “ Việc nhà thì nhát, viếc chú bác thì siêng”

          Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu như một xã hội chỉ còn những người coi việc “Ai chết mặc ai - tiền thầy bỏ túi” là đúng? Thì thử hỏi xã hội đó sẽ đi về đâu?

Lối sống vị kỷ

Cứ nhìn xã hội Việt Nam ngày hôm nay thì chúng ta có câu trả lời trung thực nhất:  một “xã hội” không có tính xã hội, thiếu vắng hẳn tinh thần cố kết, chỉ còn lại một “bầy thú” có cái tên gọi là “người”.  Vì xã hội loài người có nghiã là chúng ta phải có trách nhiệm với cộng đồng mình sống, chúng ta không chỉ phải lo cho chính chúng ta mà còn có nghiã vụ san sẻ, bảo vệ và giúp đỡ lẫn nhau. Vì thế nên chúng ta mới có những viện mồ côi, những hội từ thiện, và con người đặt ra những điều  luân lý,giá trị đạo lý và ngay cả luật pháp, để lên án hay trừng phạt những ai nhẫn tâm nhìn đồng loại mình vật lộn trong khó khăn, gian nguy hoặc đang chết mà không cưu….

Thực trạng xã hội Việt Nam hôm nay, chuyện người ta có thể vì một con chó mà giết nhau, con cái có thể sẵn sàng giêt cha mẹ chỉ vì chia tài sản không như ý; hoặc trong nhiều trường hợp, người ta đã nhẫn tâm làm ngơ cho đồng loại nằm chết bên lề đường khi họ bị tai nạn giao thông... hầu như không còn một sự tệ hại xã hội nào mà không là “bình thường” với người Việt Nam.

Từ đó đưa đến một thực trạng nếu một ai trong gia đình có “ý định” làm việc gì đó có tính cách xã hội thì sẽ bị chính những người thân của họ là những ngưòi đầu tiên dèm pha, chế diễu,... họ  không chỉ bị đánh giá là làm việc vô bổ, không mang lại “lợi ích” mà hơn thế nữa họ còn bị xếp vào nhóm những người điên rồ sống “cõi trên”.  Tại công sở thì nếu một ai đó đứng ra đấu tranh bảo vệ cho người bạn đồng nghiệp thì sẽ bị coi là những người chẳng biết lượng sức mình, kẻ không thức thời,...Nhưng nghịch lý hơn hết là chính những kẻ xếp hạng những người “muốn” làm việc xã hội vào nhóm những kẻ mất trí, chẳng biết lượng sức mình, không thức thời ...lại chính là những kẻ luôn lớn tiếng kêu gào, than phiền và lên án rằng: Xã hội hiện nay quá băng hoại. Họ khác nào những người than vãn nguyền rủa bóng đêm, nhưng lại không muốn đưa tay mình ra để đốt ngọn đuốc, thậm chí không dám bật một que diêm. Và nếu ai ai cũng chờ người khác đốt đưốc thì vĩnh viễn bóng đêm sẽ vẫn bao trùm trên tất cả.

Sống theo Bản Năng:

          Tôn thờ quyền lực - sức mạnh là bản năng sẵn có của mọi sinh vật, và tại các xã hôi như xã hội Việt Nam. Nó được hun đúc trong hầu hết mọi con người, trong từng gia đình Việt Nam.  Vì họ hoàn toàn không hề biết tới giá những giá trị căn bẳn như giá trị tự thân, giá trị nhân bản, dân quyền và nhân quyền. Trong gia đình cha mẹ là những tên độc tài đầu tiên bắt con cái phải tôn thờ quyền lực của mình.

Ngoài xã hội thì “luồn lách len lỏi lại lên lương” là một phương châm sống. Một xã hội như vậy làm sao có chỗ cho những cái mầm của công bằng, bác ái, lẽ phải đâm chồi. Từ sự tôn thờ quyền lực này dẫn đến con người bất chấp mọi luân thường đạo lý sẵn sàng vâng phục cấp trên để giết hại lẫn nhau, hoặc sẵng sàng làm ngơ trước tội ác chỉ vì kẻ làm ra tội ác là người có quyền lực hơn mình. Lẽ phải, công bằng không có được nhờ quyền lực mà ngược lại công bằng, lẽ phải, công lỹ sẽ bị giết trong tay những kẻ có quyền lực và bọn thuôc hạ của chúng.

         Tính tham lam, ích kỷ chỉ muốn tích lũy là bản năng sẵn có của sinh vật “người” đã biến chúng ta thành nhưng động vật bất nhân dã man với đồng loại hơn mọi sinh vật trên quả điạ cầu này, vì chúng ta có thể giết nhau chỉ để thoả mãn lòng tham vô đáy, chỉ vì chạy theo những ham muốn vật vật chất không giới hạn.
        
Lạm dụng thượng đế:

          Nhưng nếu một ai đó cống hiến trọn cuộc đời mình cho nhân loại thì sau khi họ chết sẽ được con người  trao tặng cho những người đó những danh hiệu như “Chúa – Phật – Tiên – Thánh Nhân…”, có thể lúc ban đầu họ muốn đề cao – vinh danh những người này, nhưng tới ngày hôm nay ta có thề nói những người này bị bọn “giáo hội của các tôn giáo” lợi dụng, chúng nhân danh họ để chia rẽ con người để phục vụ cho lợi ích của “giáo hội”. Tuy rằng ai cũng nói: “Tôn giáo nào cũng tốt”, nhưng chính khi họ nhận mình là người của bất kỳ một tôn giào nào thì phần đông đã coi tôn giáo của họ đặc biết hơn tôn giáo khác. Và đó cũng khởi điểm cho sự chia rẽ con người giữa các tôn giáo. Từ đó họ có thể làm ngơ cho người của tôn giáo khác bị đàn áp hoặc đối xử bất công miễn sao không phải người trong tôn giao của họ bị đàn áp.

Vậy nên chúng ta có thể kết luận rằng: Để khỏa lấp cho sự hèn hạ của họ, họ tự an ủi  chỉ nhưng siêu nhân mới có thể cống hiến cuộc đời cho đồng loại. Nếu không phải như vậy thì tại sao họ có thể ung dung hàng tuần tới nhà thờ – đi chùa … để đọc – tụng kinh, và nghe kể về những việc mà thượng đế của họ đã làm  lúc còn sống? Để rồi họ thản nhiên ra về không hề đoái hoài đến đồng loại họ. Tồi tệ hơn nữa là ngay chính khi họ đang hiện diện tại nhà thờ - chùa trong đầu họ là những kỳ kèo trả giá ích kỷ - trao đổi với Thượng Đế. Và hầu hết những kỳ kèo – trao đổi – van xin này đều chứa đựng sự ích kỷ như ( cho tôi – cho con cái tôi – cho gia đình tôi). Để rồi với những đồng tiền của họ hy vọng sẽ “đút lót” được “thượng đế”, họ tự biến mình thành những “con chiên trung thành” cho những kẻ nhân danh thượng đế qua những phi vụ buôn bán như vậy.  Chính sự tự nguyện vâng phục không chất vấn đã biến họ thành công cụ cho không biết bao tôi ác và chia rẽ, do chính các kẻ đại diện thượng đế với cái áo tôn giáo tạo ra để phục vụ quyền lợi cho chúng.

Niềm tin mù quáng vào tôn giao:

Thế nhưng có bao nhiêu người tìm hiểu thật về “thượng đế” của mình hay họ chỉ theo tôn giáo một cách máy móc, phần đông là do cha mẹ họ là người đã thuộc về tôn giáo đó, vì đã có một lúc gặp khó khăn, bệnh hoạn.. họ tưởng rằng cùng đường bí lối và đã khấn nguyện “hối lộ” với 1 ông thần nào đó: “Nếu ngài giúp  tôi qua cơn hoạn nạn này tôi sẽ là con chiên trung thành của ngài”, hoặc vì muốn lấy được người mình yêu thương nên  bị ep vào tôn giao ( phần lớn chuyện này xẩy ra ở người công giao)…. Cho dù với một lý do nào đi nữa thì đa số chúng ta tin một cách mù quáng không bao giờ giám chất vấn tôn giáo của mình.

Niềm tin tôn giáo biến con người thành những cỗ máy không còn tư duy chỉ còn biết “phúc cho kẻ không thây mà tin”, nếu chỉ để tin vào loài người được nặn từ cục đất xét mà ra thì tin người Việt Nam nở từ 100 quả trưng  có căn cư hơn. Chính lúc con người đặt niềm tin hoàn toàn vào tôn giao cũng là lúc họ đánh mất lương tâm của họ.

Với tôn giáo Thượng đế chỉ là tên lái buôn lưu manh:

          Làm sao có thể chấp nhận được khi một người công giáo, phật giáo hay bất kỳ một tôn giáo nào đó lại có thể cầm vũ khí giết hại đồng loại mình với bất kỳ một lý do nào, khi mà Thượng đế của họ kêu gọi yêu thương mọi người,  kêu gọi từ bi hỉ xả, kêu gọi không sát sinh  ngay cả những con thú… nhưng nhìn lại xã hội chúng ta thì sao? Cũng chính những người thuộc nằm lòng những bài kinh, những lời giảng dậy của thượng đế của họ lại hàng ngày nhẫn tâm nhìn đồng loại quằn quại trong đau khổ, họ không chỉ nhìn mà còn trực tiếp hành hạ đồng loại qua những việc làm hàng ngày của họ chỉ vì một chút tư lợi và họ có thể nhẫn tâm tàn sát ngay những người thân nhất của họ. 

Tôn giáo không làm cho con người yêu thương nhau hơn mà chỉ tạo chia rẽ và biến con người thành những kẻ nô lệ tinh thần, chỉ vì chúng rao bán một mặt hàng không tưởng dưới những mỹ từ đẹp đẽ. Và khi có một ai chất vấn sẽ bị chụp mũ thành những tên phỉ báng tôn giáo, những đứa vô thần và  là cộng sản…cũng  ví như một trò chơi hên xui “nhỡ may có thật những lời hù doạ kiếp sau như lời bọn nhân danh thượng đế rao giảng. Thôi thì bỏ tí tiên mua chiếc vé cho kiếp sau “nếu có””.
 Nếu quả thực có thượng đế thật chẳng lẽ ngài không biết được những suy nghĩ những tinh toán hơn thua – mua bán của con người với ngài? Nếu quả thực như vậy thì Thượng Đế quả là một tên lái buôn lưu manh.

Sơ lược về lịch sử cận đại

          Sự vô trách nhiêm với xã hội tồn tại được dĩ nhiên không chỉ nhờ vào những “triết lý sống” sai lầm được truyền miệng hết đời này qua đời kia, cũng không chỉ bởi sự ủy thác mọi việc vào một đấng tối cao mà di nhiên nó tồn tại được là do phần chính được bọn nhà nước củng cố và ngấm ngầm đẩy mạnh. Xét lịch sử cận đại chúng ta có được những bằng chứng rõ ràng về nhận định của tôi.
Trước đây dưới sự cầm quyền của bọn “ngụy VNCH” tại miền nàm Việt Nam, chúng đã tìm mọi cách chia rẽ giữa tôn giáo, chúng đàn áp phật giáo và tạo mọi ưu đãi cho công giáo. Với luật 10/59 chúng chia rẽ người dân với người dân.

Ở ngoài BẮC dưới sự cai trị độc tài toàn trị, với cuộc cải cách ruộng đất đã làm cấu trúc gia đình bị phá vỡ khi con đấu tố cha - mẹ, vợ đấu tố chồng thì làm sao con người còn có thể tin tưởng vào nhau nữa?  Rồi sau đó là chính sách “tam tam trị” từng người - từng gia định tự “rình rập” lẫn nhau vì vậy xã hội Việt Nam càng chia rẽ…

          Nhìn lại lịch sử nhân loại nói chung và của Việt Nam nói riêng, thì tất cả mọi cuộc chiến tranh đều do lòng tham của con người mà ra, và hầu hết đều do nhóm thiểu số cai trị dấy động. Nhưng tại sao  người ta cho tới hôm nay không nhận ra được mọi cuộc chiến trong quá khư, hiện tại và trong tương lai đều chỉ phục vụ quyền lợi và quyền lực cho bọn cầm quyền – nhà nước và giới đại bản. Chỉ với những lời hứa hẹn, một ít bổng lộc nhưng những xác chết do chiến tranh gây ra là ai? Có bao nhiêu ông vua bỏ xác tại chiến trường, có bao nhiêu ông tổng thống bà thủ tướng chết trận? Câu trả lời sẽ là không mấy người - những ai tạo ra các cuộc chiến tranh? Chắc chắn không phải là người dân! Cũng chỉ vì lòng tham – tính ích kỷ của con người đã biến họ thành những cỗ máy giết hại đồng loại và song song đó giết hại chính con NGƯỜI trong họ.

Chia để trị:

Ngày hôm nay khi đất nước “thống nhất” nhưng chúng tạo ra  những phân biệt như gia đình “ngụy quân - ngụy quyền”, gia đình có công với cách mạng, gia đình thương binh liệt sỹ,… những phân biệt trong xã hội này đã làm cho con người  nghi kỵ lẫn nhau biến họ không chỉ không quan tâm tới người hàng xóm của mình mà chính họ là những tên công an của chính họ, tìm mọi cách để đấu tố người hàng xóm của mình, tao thành tích nhằm được một chút lợi lộc từ bọn nhà nước ban phát. Chúng luôn không ngừng tạo ra những đố kỵ trong xã hội làm cho con người cảm thấy lo lắng và nghi kỵ lẫn nhau để người dân chỉ còn cậy nhờ vào sự bảo vệ của nhà nước và qua đó chúng chính đáng hoá hệ thống công an trị mà người dân không nhận ra được rằng những mâu thuẫn này phần lớn là do bọn nhà nước tạo ra. Chúng tựa như những tổ chức Mafia chuyên đi thu tiền bảo kê của người dân để chúng bảo vệ họ trước chính những tên du đãng do chính chúng nguỵ tạo ra.

Trong tất cả mọi ban ngành thì chúng đặt ra không biết bao nhiêu chỉ tiêu, định mức để người ta câu xé cạnh tranh, tranh dành nhau đạt được những chỉ tiêu mà chúng đưa ra để được một tí bổng lộc của chúng ban phát, vi dụ trong giáo dục thì chi tiêu số lượng học sinh lên lớp,  giao viên giỏi,… trong nhà cac cơ quan thì can bộ tiên tiến … chỉ vì một tí lợi lộc do đạt được những chỉ tiệu của bọn chúng đặt ra khiến con người đố kỵ lẫn nhau và ngoài ra còn đưa đến một tệ nạn khác đó là “bệnh thành tích”, do sợ không đạt được những chỉ tiêu không thể đạt được do chính bọn chúng đưa ra, nên người ta phải tìm mọi mánh khóe bịp bợm lẫn nhau, vì hầu hết những định mức chúng đưa ra hoàn toàn không phù hợp với thực tế.

Nhưng con người thật ngu đần họ như những “chú lừa và củ cà rốt”,  họ cấu xé nhau chỉ vì mốt tí lợi lộc từ những giọt mô hôi của chính họ còn phần lớn bổng lộc lại rơi vào tay của những bọn ban ơn cho họ. Thế nhưng họ lại cảm thấy rất biết ơn với những kẻ đang hành hạ họ. Đúng ra họ gặt hái được nhiều hơn nữa và thành quả lớn nhất mà họ đạt được đó là: Họ sống là NGƯỜI và không phải từng giây từng phút phải tự làm tổn thương  đồng loại và chính lương tâm họ.

Khi “mặc kệ nó” đã thành chân lý sống thì chính phủ sẽ là tên “bảo kê” chắc chắn nhất cho đám “thú đi bằng hai chân” này. Chúng ta sẵng sàng chấp nhận biến thành  những con sói cấu xé chính đồng loại và tự nguyện là những con bò sữa với bọn nhà nước, sẵng sàng để cho bọn nhà nước vắt sữa  - hành hạ và giết thịt phục vụ cho mục đích cá nhân của chúng. 

Nhồi sọ - tuyên truyền:

  Sự băng hoại toàn diện của xã hội ngày hôm nay phần lớn là do bọn nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra. Tham ô, móc ngoặc, “hợp pháp” cướp bóc tài sản của người dân, giáo dục xuống cấp,... ai có thể làm được những điều này? Chắc chắn không phải là người dân lam lũ lao động. Chỉ có bọn nhà nước mới có thể làm được, vì trong tay chúng có quyền lực chính trị, có quân đội và nhà tù. Ngoài ra chúng còn nắm trong tay một hệ thống thông tin đại chúng. Với nhà tù, quân đội … chúng chỉ có thể hành hạ, khủng bố thể xác chúng ta. Những phương pháp này đã được chứng minh trong lịch sử là không mang lại nhiều kết quả, bằng chứng cho thấy trong các chế độ phong kiến với biết bao hình phát man rợ như tùng xẻo, lăn chì, voi dầy, phanh thây, chu di tam tộc… nhưng cũng không thể khống chế được con người. Ngoài ra việc cai trị theo biện pháp này không mang lại lợi nhuận cao, vì khi con người bị bắt buộc làm việc gì đó thì họ có xu hướng chống  và làm ngược lại.

Nhưng với thông tin, thì bọn chúng có thể nhồi sọ , tẩy não người dân giết chết những ý tưởng đối kháng từ trong trứng nước. Ý thức được việc này nên các vua chúa ngày xưa đã dùng mọi biện pháp để khống chế sự hiểu biết của người dân bằng cách đốt sách. Ngay hôm nay bọn cầm quyền với những thủ đoạn gian manh hơn nhiều,  bằng những thông tin sai lệch chúng biến con người thành nhưng kẻ “nô lệ tự nguyện” - tuyệt đối trung thành với bọn chúng. Cai trị bằng phương pháp này vừa mang lại lợi nhuận cao mà còn biến con người thành những con chó săn đắc lức, họ tự tiêu diệt lẫn nhau.

Ngay từ những ngày đầu tiên bước vào ngưỡng cửa nhà trường chúng đã tẩy não con người bằng những bài hát, câu thơ, bằng những câu truyện huyền thoại như: Ong vò vẽ đánh Mỹ, năm điều bác Hồ dậy, Đêm qua mơ gặp bác Hồ… rồi hệ thống truyền thông đại chúng ( báo trí, truyền hình, radio…) hàng ngày chúng tiêm nhiễm vào đầu chúng ta những thứ rác rưởi để rồi chúng ta mặc nhiên tự động trở thành những người vệ sỹ trung thành bảo vệ nhà nước dựa trên những giá trị chiù tượng không thực như:  Yêu nước, dân tộc, bản sắc dân tộc.  Và thế là bất cứ ai chống lại chúng tự động biến thành phản quốc, phản bội dân tộc đối với những người chung quanh. Và họ tự  giác xa lánh những người này hoặc tệ hại hơn nữa là chính họ sẽ là những tên đầu tể thay cho bọn nhà nước.

Hướng giải quyết:

Nhưng bọn nhà  nước - tôn giao hay bất kỳ một thế lực nào cũng chỉ có thể leo lên đầu chúng ta được khi chúng ta cho phép chúng làm, vì khó có ai có thể leo lên đầu bạn nếu bạn không khòm lưng xuống. Chính sự vô trách nhiệm với xã hội của người dân đã trực tiếp đẩy xã hội của họ vào vực sâu của băng hoại.

          Hậu quả của một xã hội băng hoại sẽ ảnh hưởng trực tiếp lên đời sống của mọi người dân trong xã hội đó, chỉ ngoại trừ một số ít những kẻ tạo ra những băng hoại và những kẻ tay sai cho chúng là những người được lợi. Sự thật hiển nhiên bọn cầm quyền (thế quyền cũng như thần quyền) là nguyên nhân chính tạo ra những băng hoại ngày hôm nay và cũng chính là những kẻ đang gặt hái quyền lợi qua đó. Chúng ta sẽ không thể ngồi im cầu xin, đợi chờ bọn chúng nhân đạo với chúng ta khi chính chúng là nguyên nhân tạo ra những bất công trong xã hội. Cũng vì vậy chúng ta không thể phó mắc số phận chúng ta vào tay bọn chúng và chỉ với “hy vọng” hay “van xin” mong rằng một ngày nào đó bọn chúng sẽ nhân từ giải quyết những tệ nạn mang lại lợi lộc cho chúng và do chính chung gây ra.

Chính chúng ta phải là những người giải quyết những vấn nạn này và song song đó còn phải la lớn với hy vọng người hàng xóm vén tay áo lên và cùng bạn đấu tranh. Việc sánh vai cùng bạn đấu tranh không phải vì nạn nhận hôm nay là hàng xóm bạn những ngày mai chắc chắn sẽ là bạn, mà đó là một việc làm của những người hàng xóm tốt và hơn thế nữa nó còn là trách nhiệm của một người sống trong cộng động.

          Ai ai cũng sẽ cảm thấy hạnh phúc khi họ đưa tay dắt một người khiếm thị qua đường, chúng ta không hạnh phúc vì lời cám ơn của người này và cũng không phải vì “hy vọng” anh ta sẽ làm gì cho bạn sau này mà vì cảm thấy mình vừa làm một viêc có ích giúp cho đồng loại. Thế tại sao chúng ta lại không làm những việc mang lại hạnh phúc cho chúng ta? Khi con người không còn quặn đau, cảm thấy nhói trong tâm hồn khi đồng loại mình bị hành hạ thì khi đó ta có khác gì các động vật khác không?

          Muốn thay đổi xã hội cũng vậy khởi điểm bao giờ cũng đi từ một người và đi từ những việc làm bình thường nhất. Vì không bao giờ có được hai người khi không có một người, cũng như không thể đạt được những việc vỹ đại khi không bắt tay vào những việc nhỏ nhất. Mỗi cá nhân là chủ thể của xã hội mình sống, hiện trạng xã hội chính là kết quả của việc làm của từng chúng ta. Chúng ta phải biết can đảm đứng lên trên những lời dèm pha xúc xiểm của kẻ khác,  họ chỉ muốn kéo người khác xuống như họ.

Giám tạo tranh luận trong mọi lãnh vực, không có một đề tài nào là “tế nhị” và không nên nói tới vì tất cả  đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới đời sống chúng ta vậy tại sao chúng ta lại không được đóng góp ý kiến của mình. Tại sao mỗi người có một cái đầu để làm gì nữa khi chính trị là đề tài độc quyên của nhà nước và tôn giao chỉ có những người đại diện tôn giao đuợc nói tới?

Chúng ta phải tước lại quyền làm chủ vận mệnh của mình nói riêng và của cộng đồng ( xã hội ) nơi chúng ta sống. Không để bọn tôn giáo – nhà nước biến chúng ta thành công cụ phục vụ đàn áp người khác. Trên thực tế với xã hội Việt Nam ngay hôm nay chúng ta có thể bắt đầu từ những việc gì? Chỉ cần đầu tiền là hàng ngày chúng ta thực hành những điều chúng ta đang dậy con cái về mặt đạo đức làm người đã là một bước tiến rất lớn rồi. Sau đó để tiến thêm một bước cao hơn thì chính mỗi cá nhân  phải  tuyên chiến với chính mình, tuyên chiến với phần “con” trong chúng ta. Vì đây không chỉ là cuộc chiến chống lại các định chế có sẵn mà là cuộc chiến hoàn thiện bản thân. Và đây là một cuộc chiến chỉ có chiến thắng và luôn mang lại hạnh phúc cho chúng ta, nó sẽ kéo dài cho tới khi con người không còn tồn tại trên quả điạ cầu này nưa ./.

Thiên Chương
13.12.2012

Monday, November 3, 2014

Vào Nơi Hoang Dã -Ý Nghĩa Cuộc Sống - Gia Đình Xã Hội. Nhà Nước

Có  một niềm vui thú  trong khu rừng không lối ngõ
Có một điều  cực lạc trên bải biển cô liêu
Có một xã hội nơi không có gì phiền nhập
Bên biển sâu có nhạc trong tiềng gầm của nó
Tôi không yêu Loài Người ít đi, nhưng yêu Thiên Nhiên nhiều hơn.....
There is a pleasure in the pathless woods,
There is a rapture on the lonely shore,
There is society where none intrudes,
By the deep Sea, and music in its roar:
I love not Man the less, but Nature more

George Gordon Byron, 1788 - 1824




 (Hình thật của Christopher McCandless tự chụp bằng máy hình cũa anh trước khi chết- không phải tài tử trong phim).

Phim dựa theo di ký của một thanh niên Mỹ, thật sự trải nghiệm chính cuộc đời mình đi tìm ý nghĩa cuộc sống sau khi vừa tốt nghiệp  đại học (21 tuổi)

Khác với câu truyện trốn nhà đi tìm ý nghĩa cuộc sống của Tất Tạt Đa hơn hai ngàn năm trước đây,với đầy thần tích và...nhiều nét hư cấu. Câu chuyện Vào Nơi Hoang Dã có thật của Christopher McCandless đầy những chi tiết đời thường trong chính cuộc sống hiện tại của mỗi chúng ta, dù đang ở bất cứ xã hội nào.

Điểm khác biệt là chính Christopher đã quả quyết, như Tất Tạt Đa, vất bỏ tất cả lại phía sau, bước thẳng vào nơi hoang dã trải nghiệm ý nghĩa cuộc đời của chính anh, dẫu NGẮN NGỦI nhưng TRÀN ĐÀY ý nghĩa hơn bất cứ cuộc đời dài trăm năm nào!

Mời quí độc giả theo dõi và thưởng thức phim.
Cảm tạ thân hữu Thuần (Italiia) đã đưa phim  này vào đề tài thảo luận trong Hội Quán Nhân Chủ (Skype) vừa qua. Hội Quán Nhân Chủ sẽ hội thảo tiếp truyện phim này, và những bộ phim đã giới thiệu.

Quí Anh chị tham dự Hội Quán Nhân Chủ, khi thấy có bản nhạc, và phim nào ý nghĩa hay, xin giới thiệu vào trang ,để chúng ta cùng chung thưởng thức và san sẽ những nhận định khác biệt trong những lần gặp hội thảo trên Skype.

Thân ái,
NKPTC


Into The Wild 2007 from Kelly on Vimeo.

Người và Máy, Máy và Người?

AUTOMATA, Một phim hay. Thông điệp sâu sắc.
Sau khi THANH LỌC NHÂN CHỦNG, DÂN SỐ địa cầu chỉ còn 21 triệu.
Nhưng hạnh phúc, thiên đàng của phát triển bền vững cũng không xảy ra.
Người máy ROBOTs được tận dụng trong mọi sinh hoạt, dù nhân lực vẫn dư!

Quí độc giả Chúng ta nên xem để cùng nhau trao đổi lý giải và quan diểm cá nhân.

Vào liên kết này xem - Nếu trang báo đỏ, quí vị cứ phớt lờ, nhấn vào giòng chử nhỏ góc phải phí dưới của cảnh báo đỏ ( Bọn Google và Nhà nước coi chúng ta là TRẺ CON.. Chúng làm như cha mẹ hướng dẫn và cho phép chúng ta XEM gì, ĐỌC gì .v.v và Hù dọa dùng SỢ HÃI để khống chế chúng ta những đứa cha mẹ tối dạ!

http://www.solarmovie.is/link/play/3465128/